thiền và sức khỏe

Trong nền y học cổ truyền Trung Hoa, thiền trong tĩnh tại và vận động là một phương thức hay được dùng đến ở trong tầm tay của người thầy thuốc. Cho đến nay, các nhà khoa học nghiên cứu về thiền định đã chỉ ra rất nhiều công dụng bất ngờ và mối liên quan giữa thiền và sức khỏe.

Thiền từng là một “đơn thuốc” chữa bệnh

Thời xa xưa, thầy thuốc vẫn thường “kê đơn” thiền cho người bệnh, xem như là chương trình chăm sóc sức khỏe. Nói về trách nhiệm của y học Đạo giáo, trước hết là phải bảo toàn sức khỏe và tuổi thọ cho người bệnh, thứ đến mới chữa trị bệnh tật. Nhiều khi chỉ hữu thức chữa trị các triệu chứng, có phần chỉ vì các khả năng còn hạn chế của một nền y học cổ.

Bệnh tật được cho là do cơ thể bị nhiễu với cân bằng tự nhiên. Lập lại cân bằng là việc trong tầm tay của chính người bệnh, người thầy thuốc chỉ hỗ trợ. Có những quan niệm từng được vận dụng mà cách nhìn ngày nay của y học phương Tây phải ngỡ ngàng, thấy là hiện đại.

Trước hết, không bao giờ có chuyện tách biệt thể xác và tâm thần của con người. Thế giới quan Á châu xem con người là một thể thống nhất ở trong chính nó, và rồi lại cũng là một thể thống nhất với môi trường của nó, với những người khác và với các sức mạnh của thiên nhiên. Vậy nên thầy thuốc cổ truyền Trung Hoa cũng hay “thăm khám” và “chữa trị” cả các điều kiện sinh sống của người bệnh. Chẳng hạn như thầy thuốc quan tâm đến cả công việc của người bệnh và quan hệ của người bệnh với người khác.

Mặc dù xã hội Trung Quốc cho đến tận ngày nay cực kỳ dè dặt nhưng ứng xử tình dục vẫn được nói và viết công khai vì với họ thì hợp nhất tính nam với tính nữ, âm với dương vốn là nền tảng của trật tự tự nhiên. Thầy thuốc cổ truyền Trung Hoa còn khai triển cả những quan niệm về cách tạo dựng ngôi nhà và các căn phòng để rút ra mối quan hệ – gọi là “phong thủy” – thì ngay ở phương Tây cũng thấy có sự hưởng ứng cho đến tận ngày nay.

Thầy thuốc cổ truyền Trung Hoa cũng là những thiền nhân bậc thầy, chí ít cũng đã phải đạt đến bậc tĩnh lự 6, tức là đã phải có tròn 30 năm đào tạo. Phải có khả năng nắm bắt tình trạng sức khỏe của người bệnh bằng trực giác, muốn thế thì phải “khéo léo luồn vào trong da người bệnh” mà chẩn đoán để rồi từ đó luận ra cách chữa trị. Thầy thuốc Trung Hoa vốn cũng thiền giữa các ca chẩn trị để gìn giữ sức khỏe cho chính mình. Cho nên những lần áp dụng như trên, họ dùng đến khả năng của thiền sinh đã tiến xa, chủ động cảm nhận lấy người khác ở trong cơ thể của chính mình, và như thế là cả các nỗi đau và các vấn đề của người đó. Rồi người thầy thuốc lại phải thiền để tự giải thoát mình khỏi các ấn tượng ấy, trở lại là chính mình, tránh bị tổn hại về lâu dài.

thiền và sức khỏe chụp não người thiền và không thiền

Chụp não người thiền và không thiền.

Nghiên cứu khoa học về thiền đối với sức khỏe

Mấy thập kỷ qua, y học phương Tây cũng triển khai những quan niệm tương tự. Thể thống nhất thân xác, tâm thần, môi trường ngày càng được coi trọng hơn, trên cơ sở của y học tâm thần rồi, tiếp đó là y học tích hợp.

Cũng đã phát sinh cả một chuyên ngành nghiên cứu y học về thiền dưới góc độ phương Tây. Ngày nay đã có cơ sở khoa học cho cách thực hành cổ của người thầy thuốc ở trong các bện viện phương Tây. Quyết định là ở chỗ, các chương trình thiền đã được trải qua nghiên cứu, được đánh giá bằng chính những tiêu chuẩn mà phương Tây vẫn dùng để cấp phép cho thuốc men hay phương pháp chữa trị.

Giảm stress – trầm cảm

Người đi tiên phong trong chuyện giảm stress – trầm cảm này đã từ 20 năm nay là Jon Kabat-Zinn, người thầy thuốc Hoa Kỳ chuyên về các phương pháp của Phật học. Ông từng phác ra những chương trình thiền để giảm stress trên cơ sở thiền định (mindfulness-based stress reduction. MBSR, chương trình này bạn có thể tham gia miễn phí tại website https://palousemindfulness.com/). Bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về trầm cảm tại hellobacsi.com

Stress đã trở thành mối họa phổ cập, từ đó sinh ra nhiều bệnh khác có phần là bệnh nặng. Stress phát sinh không phải chỉ vì các yếu tố bên ngoài như quá tải công việc hay vấn đề quan hệ với người khác. Có người dễ bị stress, có người ít bị, đó là một thực tế. Vai trò của “đáp ứng stress” ở từng cá nhân đã được biết, thậm chí còn có thể đo thật sự thông qua thử máu.

Ở điểm này, thiền tỏ ra hữu hiệu đến không ngờ. Nhiều cuộc khảo sát đã chứng minh: chỉ sau vài tuần luyện tập hàng ngày, việc đáp ứng stress đã được cải thiện trông thấy (Theo 3 nhà nghiên cứu Holzel, Kabat-Zinn và Greeson). Thiền sinh không còn dễ xúc động và có thể phản ứng bình tĩnh hơn trước các tác nhân gây stress. Họ dễ kiểm soát hơn những cảm xúc không mong muốn, những ý nghĩ xé lòng; hữu thức xem xét, cân nhắc, xử lý và như thế vô hiệu hóa được nhiều tác nhân gây stress. Lo lắng, thậm chí sợ hãi cũng dẹp được bằng thiền, không cần phải trấn áp, chỉ hữu thức xem xét mà không đánh giá.

Chữa bệnh da liễu, viêm khớp và tiểu đường

Ở đây các kỹ thuật thiền để ứng xử với cảm xúc xem ra hơn hẳn các kỹ thuật giảm stress từng được phát triển công phu (theo Greeson, nghiên cứu năm 2009). Qua giải tỏa stress, thiền còn có tác động chữa trị bệnh – những căn bệnh do stress gây ra hoặc làm cho trầm trọng thêm như vẩy nến, u xơ cơ, tiểu đường tuýp 2, viêm khớp thấp, đau lững mãn tính. Bệnh mãn tính hay đau mãn tính nhờ thiền mà triệu chứng đỡ đi và chất lượng cuộc sống được cải thiện.

Tăng cường hệ miễn dịch & hạn chế virus lây nhiễm

Còn một tác động nữa của thiền được biết từ lâu là tăng cường hệ miễn dịch, tức là tăng sức đề kháng chống lây nhiễm do vi khuẩn và virus. Rõ ràng là có kết nối: não bộ thay đổi thì hệ miễn nhiễm cũng thay đổi. Davidson và đồng sự (2003) đã chứng minh được là sau một thời kỳ luyện tập thiền, hoạt động ở thùy não trán song hành với sự gia tăng đáp ứng miễn nhiễm lúc cấy bệnh cúm. Gần đây nhiều công trình còn chứng minh là các “tế bào sát thủ” của hệ miễn dịch ở thiền sinh rõ ràng hoạt động hơn hẳn ở nhóm đối chứng. Thậm chí ở các ca HIV/AIDS cũng thấy tác động rõ ràng và đang được nghiên cứu tiếp.

Như vậy, người hay bị khổ vì các bệnh lây nhiễm như cảm cúm hay cảm lạnh rất có thể tích cực tăng cường miễn dịch bằng thiền. Cùng một hiệu ứng ấy, có thể tìm thấy ở một số bài thuốc mà chủ yếu là dược thảo. Đừng quên là thầy thuốc cổ truyền biết rất tần tượng về những thứ cỏ cây ấy, song họ vẫn chỉ định thiền thay vì kê đơn “thuốc viên” cho người bệnh. Có thể phỏng đoán họ chuộng phương thức đó vì thấy nó có hiệu lực hơn, dựa vào hàng trăm năm trải nghiệm, chứ không phải họ hướng đến biện pháp phòng ngừa do không có phương tiện chống lây nhiễm.

Qua sách cổ, chúng ta từng biết là ngay từ thời cổ đại hoặc có khi còn trước đó, những nền văn hóa cao đã biết dùng chiết phẩm lấy ra từ bánh mì đã mốc meo hay từ rẻ lau mốc để chữa trị vết thương bị nhiễm trùng. Hiệp sĩ thời Trung cổ vốn đã học được thuật ấy từ người Ả Rập, họ đem về truyền bá ở châu Âu hồi thế kỷ 13, nhưng sau đó thuật ấy bị lãng quên. Mãi sau đó Alexander Flemming (1881-1955) mới phát hiện ra, nấm mốc penicillium notatum diệt được vi khuẩn. Kháng sinh penicillin ra đời, ông được nhận giải Nobel năm 1945. Vậy là kiến thức cổ xưa – nấm mốc trị được nhiễm trùng – đã được phát hiện của Flemming xác nhận. Hệt như thế, rất đáng xem xét không định kiến để ứng dụng phép thiền của y học thời xưa.

Tốt cho sức khỏe người già

Ứng dụng thiền tĩnh tại và vận động để giữ gìn sức khỏe người già cho đến tận ngày nay vẫn ít được quan tâm. Truyền hình thường cho thấy cảnh người già ở Trung Quốc trong các công viên ngày ngày miệt mài luyện tập khí công hay Thái cực quyền hoặc lẳng lặng ngồi tĩnh lự trên bãi cỏ hoặc trên một chiếc ghế băng nào đó. Rất nhiều người Hoa chỉ khi đến tuổi hưu mới khởi sự tập thiền. Phía sau sự kiện đó chính là một trải nghiệm: người già dễ bị nhiễm bệnh hơn. Khi về già, người ta cũng dễ bị trầm uất, dễ sa sút tinh thần hơn; thiền vốn là một phương tiện rất hữu ích để chống lại những chứng bệnh này (Kabat-Zinn 2009).

Tăng cường trí nhớ & sự tập trung

Luyện tập tĩnh lự lúc thiền tĩnh tại, học cách diễn tập thật chính xác lúc thiền vận động, não bộ sẽ được kích hoạt như đã nói trước nhiều lần trong chuyên mục Thiền định của DaquyVietnam. Cứ như trải nghiệm cũ thì việc khai triển “sati” (niệm) tác động rất tích cực và xuyên suốt vào trí nhớ. Vậy cho nên ở các ngôi chùa của nhà Phật, nhiều nhà sư ở các độ tuổi 80 hoặc 90 nhưng vẫn thuộc làu làu kinh sách và còn học thêm được kinh kệ mới. Trong tư duy của người châu Á thì hẳn nhiên là thế, phải đến lúc cao tuổi con người mới phát huy được hết năng suất tinh thần. Cách nhìn ấy đối lập nghiệt ngã với quan niệm về người già ở phương Tây; mãi gần đây nghiên cứu của phương Tây mới cho thấy quan niệm ấy là thiên kiến sai lầm (Cohen 2006).

“Sati” làm thay đổi cả quan hệ với thể xác và các hành động. Nhiều người già có nguy cơ dễ ngã, khi ấy có thể thành thương tật hoặc thậm chí mất mạng. Khả năng chú tâm có thể hỗ trợ. Hỗ trợ không chỉ bằng cách làm cho khỏi nhãng đi hoặc chợt nhớ ra, giúp tránh được việc bước hụt và gặp nạn. “Sati” trước hết là khả năng hành động, từng bước một “ở chỗ này và ngay bây giờ”, bình tĩnh xem xét cái lo và cái sợ. Người chú tâm sẽ không còn phải “giật mình” mỗi khi chợt nhớ ra là đã lỡ mất buổi hẹn thầy thuốc, hoặc giả quên mua quà cho đứa cháu. Họ phản ứng bình thản và xử sự tương ứng, vẫn cứ thong thả lên thang hoặc chẳng quá vội vàng đến nỗi vấp ngã ở giữa đường phố.

Tương tác giữa não bộ và cơ thể do y học tâm thần nghiên cứu, ở đây các kết quả hiện đại cũng đảo lộn cách nhìn của chúng ta (Ruegg 2010). Đang rõ nét dần: hóa ra các bài học cổ xưa của châu Á lại rạng rỡ ra nhờ có khoa học phương Tây.

DaquyVietnam,

Mời bạn xem thêm: mặt dây chuyền đại nhật như laiphật bản mệnh tuổi thânbồ tát đại thế chí .

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!