Thiền và khoa học

Thiền là một đề tài nghiên cứu thú vị, bởi lẽ thiền sinh có thể làm được những điều mà đôi khi thoạt trông có vẻ như là “không thể được”. Tương ứng, người ta đã viết rất nhiều về vấn đề đó.  Đáng tiếc là không thể sử dụng được phần lớn các công trình này. Chẳng hạn, nhà tâm lý học Ulrich Ott (2000) phê phán “các thiếu sót về phương pháp luận”, những thiếu sót khác nằm dưới sâu hơn và người ngoài cuộc không dễ nhận ra. Vậy làm sao người ta có thể phân biệt giữa khoa học “đúng” và “sai” hay thậm chí ngụy khoa học với nhau?

Khoa học tự nhiên được lý giải bởi thực nghiệm, một ý tưởng hay giả thuyết được kiểm chứng qua các thí nghiệm. Tuy nhiên, vẫn có thể có những sai lầm hiển nhiên, nếu như nhà khoa học phác thảo các thử nghiệm của mình một cách không phê phán hay với định kiến. Khi đó, các thí nghiệm với con người sẽ đặc biệt phức tạp, bởi lẽ các quá trình tâm linh có thể xô đổ hoàn toàn một kết quả. Ví dụ: một liều thuốc có tác dụng gì? Các thầy thuốc biết ngay rằng niềm tin đã gây ra điều kỳ diệu. Bởi vậy, người ta thử các loại thuốc so với các loại giả dược (placebo). Đó là chất không có tác dụng gì, nhưng những người được thí nghiệm không phân biệt được nó với những thuốc có tác dụng. Các nhà nghiên cứu so sánh hai nhóm mà ở đó nhóm này được trao thuốc, nhóm kia nhận chất giả dược. Khi đó thường thấy, hóa ra chất giả dược lại có thể có hiệu quả đến mức gây kinh ngạc.

Sự tương ứng là khó đối với nghiên cứu thiền. Trên nguyên tắc phải so sánh hai nhóm: thiền sinh và giả thiền (placebo). Chẳng hạn: liệu thiền có thể giảm tính nhạy cảm với stress của người ta hay không? Người ta đã sớm thấy khả năng này. Khách quan mà nói thì phần nào có thể đo được stress, bởi lẽ cơ thể phản ứng với nó bằng những thay đổi sinh hóa. Nhưng cả nhân cách cũng quyết định đến ứng xử với stress và “lời đáp với stress” của cơ thể. Con người ta rất khác nhau và phải có một nghiên cứu để loại bỏ những khác biệt này. Từ đây rút ra là, một khảo cứu phải dựa trên một số đông người, có lấy máu và phỏng vấn về nhân cách. Lẽ ra, phải thử nghiệm hàng trăm, hay tốt hơn là hàng ngàn người để khảo cứu cũng sẽ đứng vững trước các định luật của thống kê học. Điều đó đắt tiền và tốn kém sức lực, thời gian. Mà đối với nhà nghiên cứu, thời gian và tiền của ngày càng khan hiếm.

Bởi vậy, những nhà khoa học nhiều sáng kiến cố gắng phác thảo các thử nghiệm của mình sao cho dẫu vận dụng hạn chế vẫn thu được những kết quả giàu tính thuyết phục. Chẳng hạn thí nghiệm Davidson và đồng sự (2003) đã gây ấn tượng mạnh. Họ chia những người thí nghiệm của mình ra thành hai nhóm: nhóm này thực hiện một chương trình thiền, nhóm kia học các kỹ thuật thư giãn. Các phép đo điện não đồ (EEG- Electroencephalogram) ghi lại tiến bộ của những thiền sinh. Sau đó, người ta tiêm phòng bệnh cúm cho tất cả những người thí nghiệm và bằng thử máu để kiểm tra xem đề kháng miễn dịch hình thành nhanh đến đâu. Nhóm thiền rõ ràng thành công hơn.

Bằng việc so sánh thiền với các kỹ thuật thư giãn, Davidson và đồng sự đã thực hiện một bước hết sức cơ bản. Hệ miễn dịch đúng là tốt hơn ở tất cả những người cân bằng và ổn định về tâm linh. Trên nguyên tắc, các kỹ thuật thư giãn cũng có thể đạt được điều đó và bởi vậy chúng là một giả dược đầy ý nghĩa cho sự so sánh với các tác dụng của thiền. Bằng cách này, khảo cứu trở nên nghiêm túc và đáng tin cậy.

Tuy nhiên vẫn cần những khảo cứu tiếp theo, bởi lẽ những kết quả thoạt trông có vẻ như cao sang và sáng sủa còn lâu mới tương ứng với chân lý. Một bài học cho vấn đề đó là châm cứu, mà các thành công trong việc chống đau có vẻ như là không thể tranh cãi. Klaus và đồng sự ở đại học Munchen (2009) đã nghiên cứu việc điều trị đau đầu bằng châm cứu trên hàng ngàn bệnh nhân. Hóa ra, người bệnh cũng hết đau đầu nếu như chủ tâm đâm kim sai. Cả những kim ảo cũng vẫn có tác dụng: khi đó kim châm lặng lẽ biến mất khỏi bệnh nhân và hoàn toàn chẳng hề đâm vào da (châm cứu placebo). Dẫu sao châm cứu vẫn có tác dụng đối với đau đầu tốt hơn là thuốc. Vậy đối với đau đầu, hiệu ứng giả dược thậm chí còn hiệu quả hơn là thuốc chăng? Madsen, Gotzsche và Hrobjartsson (2009) trình bày một khảo cứu lớn hệt như vậy, khảo cứu này trên thực tế chứng minh rằng châm cứu không có tác dụng trực tiếp chống đau. Dẫu sao qua đó nhiều bệnh nhân đã được trợ giúp trong việc chống đau.

Việc nghiên cứu thiền cũng đã gặp những vấn đề như vậy. Kinh nghiệm ngày càng gia tăng cho phép rọi ánh sáng mới để làm cho những khảo cứu trước đây hiện lên hoàn toàn khác. Các nhà khoa học tự nhiên đã biết hiện tượng này nên họ đề ra quy tắc rằng các kết quả nghiên cứu chỉ được coi là “bảo đảm” sau khi các nhà khoa học khác đã kiểm tra lại – tốt nhất là bằng những phương pháp khác. Qua đó, số các “nhận thức đã được bảo đảm” dĩ nhiên giảm rõ rệt. Ở đây thể hiện giá trị của những bài báo tổng quan, trong đó đánh giá có phê phán về một lĩnh vực chuyên môn. Nhờ vậy, năm 2009 Greeson đã tìm ra rằng, theo nhiều khảo cứu, thiền đã cải thiện hệ miễn dịch. Vậy là kết quả của Davidson và đồng sự (2003) vừa mô tả ở trên có thể coi là đã “được bảo đảm”.

Ngay cả bản thân các nhà khoa học cũng có thể trở thành vấn đề. Họ không phải lúc nào cũng độc lập, có thể thiên vị trong những phát biểu của mình, một số thậm chí còn rời bỏ nền tảng khoa học. Do sức ép của cạnh tranh của các kế hoạch thăng tiến trong sự nghiệp và của người cấp tiến, thậm chí họ còn có thể đưa ra những kết quả ngụy tạo. Trong trường hợp xấu nhất, các chính phủ sẽ phải quan tâm tới những kết quả “đúng” và phải tạo ra sức ép. Không phải tất cả mọi quốc gia đều bảo đảm tự do cho khoa học nên qua đó, nghiên cứu ở nhiều nước bị mất uy tín. Và cả nghiên cứu về thiền cũng đã trải nghiệm điều cay đắng đó. Bởi vậy mới có những cơ chế kiểm tra mà chúng cũng dễ thấy ngay cho cả người bên ngoài và sẽ ngăn chặn được những ung nhọt.

Những xung đột lợi ích có thể xảy ra trước hết phải được minh bạch hóa trong nghiên cứu y học khi các nhà khoa học công bố các kết quả của mình. Các tờ tạp chí nghiêm túc đòi hỏi các nhà khoa học khi nộp một bài báo để đăng phải tiết lộ sự phụ thuộc của mình. Vấn đề đó bao gồm cả chức vụ ở các hiệp hội, sự hợp tác với các công ty hay những lợi ích thương mại của chính bản thân mình. Có những hiệp hội hay tổ chức cao cấp đào tạo giáo viên hay chào mời các chương trình dạy thiền. Ở một số nước, chẳng hạn như Mỹ, thậm chí còn là một nền công nghiệp thực thụ. Các phiếu phỏng vấn cho thấy khoảng 1/3 số người Mỹ dùng thiền hay bất kỳ một kỹ thuật giải tỏa nào – tức khoảng 100 triệu khách hàng cho những dịch vụ tương ứng. Một số nhà nghiên cứu tự mình phát triển các chương trình thiền, qua đó có hoạt động thương mại. Điều đó không có nghĩa là họ sẽ đưa ra những nghiên cứu giả và sản xuất ra quảng cáo cho công việc riêng tư của chính mình. Nhưng không thể từ chối thổ lộ những mối liên hệ như thế cho người đọc một công bố khoa học. Mục “những xung đột lợi ích có thể” ở cuối bài báo là một cơ chế kiểm tra quan trọng. Cũng vì lý do tương tự, ở mục cảm ơn sẽ phải nêu tên người cấp tiền cho nghiên cứu.

Còn việc quan trọng hơn nữa là việc phản biện các bài báo bởi những nhà khoa học độc lập trước khi chúng được công bố trên một tờ tạp chí khoa học. Các tạp chí nghiêm túc thực ra không đơn giản in hết tất cả những gì họ nhận được do ai đó gửi đến. Những bài báo gửi đến sẽ được ít nhất hai nhà khoa học độc lập phản biện. Những người phản biện này làm việc phi vụ lợi, được giấu tên và bởi vậy có thể tự do thể hiện ý kiến của mình. Họ nêu những đề nghị nâng cao và trên nguyên tắc sẽ quyết định xem liệu một bài báo khoa học có thể được công bố hay không. Những tờ tạp chí “đã được tham khảo” như thế rất có tiếng tăm trong khoa học, trong khi những tạp chí khước từ phản biện chỉ được coi là những tờ thuộc loại hai hay loại ba và nội dung của chúng cũng phải được đánh giá tương ứng.

Một số tạp chí “có tiền án về mặt tư tưởng”. Ở đó các nhà nghiên cứu có thể công bố những kết quả mà về cơ bản đã bị đại đa số đồng nghiệp phủ nhận. Các tạp chí này thường có mối liên hệ với các hiệp hội hay tổ chức tương ứng. Các tạp chí khác lại chuyên môn hóa vào những lĩnh vực hẹp trong ngành khoa học của mình. Những tạp chí như thế luôn bị nghi ngờ là muốn tự khẳng định chính mình và các độc giả yêu mến của mình. Thường cả những người phản biện cho các bài báo cũng là những người hoạt động trong ngành chuyên môn hẹp đó và vậy là xuất phát từ một giới hạn rất hẹp. Ở đây cũng đòi hỏi người đọc phải có hiểu biết mang tính phê phán.

Điều đáng tiếc xảy ra là có những nhà nghiên cứu xa rời nền tảng khoa học, dù cho họ làm việc cho một trường đại học hay một viện nghiên cứu nghiêm túc. Đạo đức khoa học tự nhiên đòi hỏi các kết quả khoa học phải có thể được kiểm chứng bởi mỗi cá nhân bất kỳ. Bởi vậy, các nhà khoa học tự nhiên thực hiện các phép đo và quan sát mà ở đó về cơ bản, họ là thừa nếu ở tư cách các cá thể. Mỗi người đều có thể thực hiện các phép đo và quan sát, chỉ có vậy chúng mới có thể kiểm chứng được. Khi một nhà nghiên cứu dựa vào tác động của Chúa, vào các năng lượng sống không thể đo được hay các tín hiệu từ thế giới bên kia thì đường phân cách với khoa học rõ ràng đã bị vượt qua. Đang phát biểu ở đây là một người ngoài đạo (đối với khoa học) hay thậm chí là một nhà tư tưởng.

Nhưng có nhiều người ngoài cuộc tin rằng ý kiến của các nhà khoa học tất nhiên phải khách quan và vì vậy đáng tin. Điều đó là sai. Đúng ra thì một ý kiến chưa phải là một kết luận khoa học. Ngay cả các nhà khoa học nghiêm túc nhất cũng đam mê lý thuyết và phát triển những ý nghĩ của mình. Bằng cách này, họ sẽ thử nghiệm những hướng nghiên cứu mới và phác thảo những thí nghiệm mới. Những tư biện của các nhà khoa học nghiêm túc hướng vào các phép đo và quan sát khách quan, chúng đặt ra những câu hỏi và đó là nguồn nhiên liệu thúc đẩy sự tiến bộ. Quan trọng là phải đánh dấu những điều tư biện này một cách rõ ràng như là những ý tưởng chưa được chứng minh, như là những giả thuyết, chúng cần khơi mào một nghiên cứu khoa học. Dẫu vậy, trên thông tin đại chúng vẫn luôn xuất hiện các giả thuyết như là “phát biểu khoa học”, đó là một điều hiểu lầm rất lớn giữa khoa học và công luận.

Các ngành khoa học nhân văn, chẳng hạn như triết học, cũng có những nguyên tắc tương tự. Chúng tuân thủ các nguyên tắc logic học và qua đó phải chứng minh các kết luận của mình bằng cách tiếp cận và triển khai. Trong các ngành khoa học nhân văn, đôi khi có những giả thiết cơ bản đã tránh né việc kiểm tra khách quan. Chẳng hạn như các nhà thần học giả thiết rằng Chúa thực sự tồn tại. Một khi đã mô tả nền tảng này, từ đó các nhà thần học có thể xây dựng tiếp và thực hành khoa học nghiêm túc. Tuy nhiên, kết luận phải được tiếp cận và triển khai một cách logic đối với mỗi người.

Khi xem xét thiền một cách khoa học, người ta sẽ rơi vào một song đề nào đó. Nhiều trong số các quá trình xảy ra trong khi thiền là không thể đo được một cách khách quan. Một số nhận thức được dựa trên những quan sát của chính bản thân những người đang thiền và phụ thuộc vào mức độ tiến bộ của họ trong tu tập. Như vậy, chúng là không thể kiểm chứng được đối với mỗi người. Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng phải chấp nhận sự hạn chế này. Không phải mỗi người đều có thể đến phòng thí nghiệm, biết sử dụng thiết bị đo và hiểu các kết quả. Luôn có một điểm, ở đó cần sự tin cậy vào công việc của các chuyên gia. Theo ý niệm này, người ta cũng phải đánh giá những kinh nghiệm chủ quan của những thiền sinh. Ở đó có sự tin cậy rằng từ lâu đã có nhiều  người mô tả những quan sát tương tự. Nhưng phải rõ rệt tách biệt chúng với các cách trình bày, vốn đã giải thích các quan sát theo mức độ nhận thức người đang thiền. Nhiều bậc thầy đã chủ tâm tuân thủ logic học. Sự kiểm tra qua những thiền sinh khác là bắt buộc từ nhiều thế kỷ qua. Trước nền tảng này, không có chỗ cho mê tín dị đoan và những giải thích siêu ý niệm.

Theo Heinz Hilbrecht

Daquyvietnam,

Mời bạn xem thêm: mặt dây chuyền đại nhật như laiphật bản mệnh tuổi thânbồ tát đại thế chí .

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!