thiền giúp rèn luyện tư duy trực cảm

Trong thiền định, tư duy trực cảm vốn vẫn được coi là một mục tiêu cao. Ai cũng có tư duy trực cảm, bất kể có thiền hay không. Song thiền định có thể nâng tư duy trực cảm lên hàng ý thức và làm cho nó trở nên hữu thức, y hệt như thứ tư duy liên quan đến ngôn ngữ quen thuộc, tức thị thiền sinh tự khai phá cho mình cả một thế giới vừa kỳ lạ vừa rộng lớn.

Tư duy trực cảm thông thường được mọi người trải nghiệm có cái nhìn sâu, những ý tưởng, những quyết định như thể từ trên trời rơi xuống. Đột ngột sáng tỏ ra các mối liên quan phức tạp, chí ít cũng ở dạng cảm nhận chắc chắn. Những quá trình như thế đôi khi có giáp ranh với thấu thị, đọc ý nghĩ. Ở những trường hợp này, cá nhân thường thầm rõ là có những cái mà lý trí không sao biết được. Hệt như thế, tư duy trực cảm cũng nhận ra được ở người khác những cái tưởng chừng chỉ có thể xuất xứ từ những ý nghĩ thầm kín và lẽ ra chẳng có cách nào để biết. “Biết người” là thế. Trông thân thiện thật nhưng đằng sau cái vẻ ngoài thân thiện kia tàng ẩn những ý đồ xấu xa. Hệt như vậy, trực cảm mách bảo ta là con người đó tin được, cho dù những người khác lại thấy hoàn toàn trái ngược. Ở trường hợp này, hẳn cũng chẳng cần truyền đạt lại cho họ các lý do của cái “điều nghĩ thầm” làm gì.

Những quyết định khó khăn “từ trong lòng” nhiều khi không giải thích được. Thường đó là những trường hợp phải cân nhắc nhiều, cân nhắc kỹ cái lợi cái hại, những trường hợp được cái này thì mất cái khác. Chẳng hạn, vấn đề trang bị nội thất hay vấn đề mua xe hơi. Ai hình dung được trước: bộ sofa này phối với cái tủ kia trông sẽ ra sao; rồi thêm tấm thảm, ánh sáng cửa sổ, cửa ra vào ở đây thì lối đi thế nào?… Hệt như vậy là vấn đề về xe hơi. Như thường lệ, cơ sở để mua đâu có phải chỉ là những dữ liệu kỹ thuật. Chiếc xe phải được cảm thấy là “chính nó”, đáp ứng được các nhu cầu.

Ẩn đằng sau các quyết định “nằm lòng” ấy là cả một quá trình: não bộ thật sự mô phỏng lại thế giới. Nó thật sự kê vào trong phòng bộ sofa lấy ở cửa hàng đồ gỗ rồi nó chạy quanh trong phòng. Nó trải thảm ra rồi ngắm xem liệu màu sắc hiện ra có hài hòa không. Trong cái hình ảnh mô phỏng ấy, ta có thể ngồi lên bộ sofa mới. Có nhìn bao quát được khắp phòng không nhỉ, có với được các đồ vật trên mặt bàn không đây? Lắm khi vấn đề nằm ở từng centimet hoặc ở những góc hoàn toàn nhất định, những cái mà ở cửa hàng đồ gỗ đâu có ai ý thức hay nghĩ đến được. Thêm gã bán hàng, gã nhồi nhét tin tức cho ta, gã vẽ thế giới trong sắc màu của gã. Nhưng ta biết: gã đang phỉnh mình hay là gã thật lòng giúp mình quyết định đây.

Tư duy trực cảm xuất xứ từ những ngăn khác nhau trong não bộ, được khảo sát kỹ nhất là các tâm vận động vốn chịu trách nhiệm điều khiển thân xác. Những quan sát mà nhà sinh học thần kinh người Italia Giacomo Rizzolatti cùng với ekip của ông thu thập được năm 1996 đã làm thay đổi hình ảnh của con người về cơ bản (Rizzolatti và Sinigaglia 2008). Họ đã cấy điện cực vào não bộ của một con khỉ rồi lái lệch đi các tín hiệu của từng tế bào thần kinh, tức nơ ron. Con vật không hề hấn gì, điện cực vốn siêu mỏng nên không gây tổn hại cho tế bào. Con khỉ phải với tay để lấy hạt dẻ ở một cái khay; các điện cực được cấy vào chính các tế bào thần kinh phải chịu trách nhiệm về cử động với của bàn tay. Tín hiệu điện đã chỉ ra cách các tế bào thần kinh cùng điều khiển với quá trình với tay. Từ đó suy ra các hình mẫu tín hiệu, mỗi hình mẫu đặc trưng cho một cử động nhất định của bàn tay.

Nhưng các thí nghiệm ấy đã khuấy động dư luận vì cái gì đó khác hẳn. Chẳng là các tế bào thần kinh của khỉ vẫn cứ phát tín hiệu ngay cả lúc nó không hề động tay. Giacomo phát hiện: thì ra cũng đúng lúc ấy có một cộng sự của ông đã thò bàn tay vào khay hạt dẻ. Dễ hiểu: vẫn là các tế bào thần kinh ấy đã “bắn” tín hiệu, bất kể lúc đó chính con khỉ đã động tay hay là nó chỉ đứng xem người khác làm động tác ấy. Không cần biết động tác ấy là của chính nó hay là của con người, các tế bào thần kinh vẫn phát đi những tín hiệu ấy.

Như thế về nguyên tắc, để hiểu được động tác của con người, hẳn là con khỉ đang phải vận dụng các tế bào thần kinh điều khiển bàn tay nó ở trong não bộ của chính nó. Và con khỉ đã nhận thức ra được động tác của con người sâu đến mức cứ tưởng động tác ấy là của chính nó. Như thế, các tế bào thần kinh của chính nó đã phản ánh hoạt động của các tế bào thần kinh khác, trong một bộ não khác, nên mới gọi các tế bào thần kinh ấy là những tế bào thần kinh gương, những “nơ ron gương”.

Rất nhanh sau đó, Giacomo và ekip của ông còn phát hiện ra là những hiện tượng như thế không chỉ xuất hiện ở các cử động của bàn tay. Tất cả các tế bào thần kinh điều khiển các cử động của thân xác đều có khả năng phản ánh các cử động của người khác hoặc con vật khác. Tất tật những gì mà kẻ khác trải nghiệm nơi thân xác họ, chúng ta đều trải nghiệm được với các tế bào thần kinh của chính chúng ta. Trong thực tế, những lúc ấy chúng ta lại chính là “kẻ khác”.

Ở những người là thân quyến, bạn thân hay đồng sự tốt của nhau, hẳn là các nơ ron gương và những tổ chức cao hơn nữa có rất nhiều cơ hội để tích lũy trải nghiệm thật chính xác. Não bộ dành riêng hẳn một ngăn cho các đối tượng ấy. Nó mở ra các khả năng “thấu thị” mỗi khi có chuyện liên quan đến họ. Não bộ lúc này đã sẵn có dữ liệu để mô phỏng sự thật hết sức chính xác. Nó có thể thấy cái người kia ắt sẽ làm, trong một tình huống nào đó. Nó có thể nói trước cái người kia sẽ làm thật. Tức là chuông điện thoại đổ hồi, tiếng người kia: “mình vừa nghĩ đến bạn”. Không có thấu thị, không có truyền thống ý nghĩ đằng sau đó. Đơn giản là cái đặc tính riêng của nơ ron thần kinh và các nếp mô phỏng bên trên nó ở trong não bộ vốn có thể tạo những năng suất khó tưởng tượng.

Người ta sẽ đau lòng vì cái khả năng ấy, khi mà trong số người thân thiết, rủi lại có ai chết hoặc giả có một mói quan hệ tan vỡ. Trong não bộ, các tế bào thần kinh tương ứng vốn đã quen, đã thành thục với người ấy. Não bộ giờ đây vẫn triển khai tiếp những khát khao, mà sự thật là không còn có thể thành hiện thực. Tức là những tế bào vẫn liên tục làm việc, phát tín hiệu vào chân không. Vậy nên tang thương có thể kéo dài nhiều năm và rất nhức nhối, giống như một cơ thể đã mất đi một cánh tay, não bộ phải được đào tạo lại và lạ lùng là đôi khi người có tang thật sự trông thấy người đã khuất, hoặc giả cảm thấy người ấy vẫn quanh quẩn đâu đây. Thế nên ngay ở người tinh thần đang còn rất minh mẫn vẫn có thể sinh ra ảo ảnh, ảo giác. Thật vậy, đâu phải chỉ ở người đang có tang. Khao khát nhiều khi thấm sâu vào đến tận ý thức, khi ấy nó sẽ thế chân cái sự thật cảm nhận được.

Phát kiến nơ ron gương như một cuộc cách mạng thực sự nội hàm về bộ não. Nó dấy lên cả một làn sóng tranh luận trong khoa học mà Joachim Bauer (2006) đã tóm tắt các kết quả. Chẳng hạn như vì đâu người với thú lại hiểu được nhau. Giả sử có hai người đang bước tới ngay trước mặt nhau. Ắt không khỏi đụng độ, song lại không, họ tránh nhau và lúc ấy họ biết chính xác là tránh đường nào, cách nhau bao nhiêu là đủ. Vì sao họ lại biết? đó là các nơ ron gương ở não bộ, chúng mô phỏng bước chân của người phía trước. Chẳng là lúc tôi tự đặt mình vào một người khác và tưởng tượng di chuyển của người ấy chính là di chuyển của bản thân mình, lúc ấy tôi hình dung được ngay cái di chuyển ấy ắt dẫn mình tới đâu. Như thế, não bộ có thể “bói” ra trước rồi điều khiển cách tránh.

Với cùng kỹ thuật ấy, “đọc ý nghĩ” không còn là trò phù thủy. Chẳng là cảm nghĩ thường tự thể hiện ở động tác của cơ thể; động tác ấy diễn ra vô thức và được cảm nhận cũng vô thức. Trán hơi nhăn lại có thể muốn nói: “mình chẳng tin”. Ngón tay búng nhẹ có khi là ý: “tớ sốt ruột”. Ở não bộ của người quan sát những động tác như thế tức thì được các nơ ron gương hoán đổi vị trí làm chủ. Lập tức nảy ra câu hỏi: làm thế nào nếu như chính mình nhăn trán? Sốt ruột đến đâu sau cái búng ngón tay nọ? Như thế, ta nhìn nhận cảm nghĩ của người khác như thể của chính ta và có thể phản ứng. Chẳng có gì liên quan với đọc ý nghĩ (telepathie: viễn cảm, thường gọi là thần giao cách cảm). Song khả năng nắm bắt cảm nghĩ (empathie, đồng cảm) thì đã được biết từ lâu. Có người nhạy cảm tốt, có người nhạy cảm kém. Trong thực tế, tiếng nói của cơ thể và đồng cảm mới đúng là các kênh giao tiếp chính giữa người và người; Ngôn ngữ, trái lại, vốn chỉ là một kênh giao tiếp rất xoàng xĩnh.

Khả năng thực hiện của tiếng nói cơ thể và đồng cảm trong thực tế là vô hạn. Các nhà nghiên cứu hành vi trong nhóm của Karl Grammer, Đại học Wien đã tìm được một ví dụ (Grammer và đồng sự 2003). Họ tự hỏi: đàn ông thấy những người đàn bà nào hấp dẫn? Vào những ngày khi người nữ có thể thụ thai, hẳn là chàng trai nào cũng thấy cô gái ấy đẹp, đáng ao ước. Trong thí nghiệm của họ, các nhà nghiên cứu ở Wien mời phụ nữ đến đứng trước ống kính máy quay video rồi đơn giản là họ chỉ việc xoay một vòng xung quanh cái trục của chính mình. Xong, họ xác định mức hormon của số phụ nữ ấy, trước hết là mức estrogen, thứ hormon điều tiết sinh sản. Tiếp theo, họ cho cánh đàn ông xem cuộn phim với yêu cầu là hãy xếp hạng những người phụ nữ ấy từ đẹp đến xấu. Vốn là, định mức estrogen trong mình càng cao thì cử chỉ của người phụ nữ càng trở nên duyên dáng. Cánh đàn ông đâu có biết như thế, song bằng trực cảm họ vẫn xếp những người có mức estrogen cao vào hàng những người hấp dẫn nhất. Hơn thế, họ xếp đúng với độ chính xác cao, cứ như thế chính họ đã làm khảo sát bằng xét nghiệm hóa học. Mặc dù vậy, chẳng có người đàn ông hay người đàn bà nào ý thức được là những tín hiệu như thế chi phối cách xử sự của họ và nhất là cách họ đánh giá người khác. Nhóm nghiên cứu ở Wien còn làm thêm thí nghiệm nữa về chủ đề này. (Tham khảo: http://www.univie.ac.at/)

Như vậy, thông tin của các nơ ron gương, mà cũng là chuyển động của người khác, tạo cơ sở để tiếp tục phân tích sâu hơn, bởi vì nơ ron gương kéo sập rào cản giữa người và người. Cảm nghĩ của người khác tự phân định trong não của ta cứ như đó là cảm nghĩ của chính ta. Cho nên nụ cười mới dễ lây, mới dễ phù phép ra cùng một nụ cười trên các gương mặt khác. Nhưng vẫn từ cơ sở ấy, một gương mặt không ngừng cau có ắt rồi sẽ đầu độc cả bầu không khí vui vẻ giữa những ai cùng hội cùng thuyền.

Các bậc thiền sư vốn cũng biết những trải nghiệm như thế. Tư duy ngôn ngữ, cảm nghĩ, giác quan càng được vỗ yên, thư giãn thì tư duy trực cảm càng dội lên trên bề mặt. Rồi đến một thời kỳ nào đó, ở khoảng các bậc 5 của thiền hay bậc 6 của thiền, tiếng nói ấy trở thành biểu thức và bất kỳ lúc nào cũng có thể cảm thấy được nó. Đến lúc ấy, thiền sinh chợt hiểu ra vì sao mình đã có thể ra những quyết định “nằm lòng” nào đó. Thiền sinh lúc ấy có thể ý thức được, cảm thấy được thân xác của một ai đó ở trong chính con người mình, rồi cũng cảm thấy được cả cái tâm thức của kẻ đó. Các bậc thầy đời xưa đã dùng khái niệm “ý thức toàn năng” để chỉ khả năng này.

Cụm từ “ý thức toàn năng” huyền bí đó mô tả cách não bộ người làm việc trong thực tế. Trên mặt bằng, nơ ron gương vốn chưa biết chỗ khác biệt giữa nó và người khác. Song trong thực tế, chỗ khác biệt đó chúng ta biết nhưng vấn đề não bộ phân biệt giữa nó và người khác bằng phương tiện nào thì trong khoa học còn khá mù mờ. Có điều chắc chắn, trẻ thơ chưa thể phân biệt giữa cái “tôi” và kẻ khác. Để ý thức về cái “tôi”, đứa trẻ còn phải phát triển đã, nó phát sinh trong khoảng hai năm đầu đời, trước kỳ “tuổi tôi” thứ nhất, kỳ điển hình của trẻ lên ba. Song cả người lớn cũng đâu có nghiệm thấy cái “tôi ranh giới” của mình đã tắt. Bố mẹ thỉnh thoảng cảm nhận được nỗi đau của con cái, có người sa vào hoảng loạn lúc thấy người khác làm điều gì đó (mà mình cho là nguy hiểm). Trong thực tế, cái “tôi ranh giới” không phải là một bức vách mà nó là một thực thể không khép kín. Nó thậm chí có thể sập đổ hẳn, khi chẳng hạn cả nhóm hành động mà chỉ “như một người”, tuyệt không thấy trao đổi hữu thức. Khi đó thậm chí mọi cơ chế kiểm tra trong não bộ có thể đều đã bị dập tắt; những nhóm như thế hành động như thể trong một cơn mê sảng.

Trong thiền, “khống chế cái tôi” ở hai bậc thiền 5 và 6 không phải là để tái hồi tuổi thơ. Thiền sinh vốn biết tự liệu, để kẻ khác chi phối mình đến đâu và mình muốn nghiệm cái sức chi phối đó nhiều hay ít. Tuy nhiên, não bộ phải được rèn luyện về cái khả năng “tạo khoảng cách” đó. Nhiều khi, lúc mới đầu thiền sinh có cảm giác đã “đánh mất” thân xác của mình. Họ nghiệm thấy kẻ khác trực tiếp tác động vào mình, và nhất là trong mình, ra sao. Trước kia vẫn thế, song bây giờ thiền sinh mới ý thức được những tác động như vậy. Không thiền thì não bộ vẫn hoạt động y hệt, nhưng là vô thức và xa vòng kiểm soát của ý thức. Như vậy, “khống chế cái tôi” đâu có đánh mất cái tôi của mình mà hoàn toàn ngược lại, mà chính là ý thức được về trạng thái của “ranh giới cái tôi” của mình.

Khi có kẻ xấu chơi định “dìm” mình, thiền sinh ý thức được. Để bị chi phối hay là không, anh ta tự định liệu. Người khác hiếm có những khả năng ấy. Họ phản ứng bằng cách cũng chơi xấu, tiện thì họ tố giác kẻ “gieo rắc cái xấu”. Thiền sinh có những phương pháp khác. Anh ta có thể vận dụng cái thư thái và tĩnh tâm của thiền vào “ý thức toàn năng” ngay cả với người khác. Trò xấu xa kia có đến nhưng không lọt sâu vào tâm thức của anh ta được. Cái khả năng ấy anh ta đã tự luyện được cho mình ngay từ khi còn ở bậc thứ 4 của thiền định: anh ta nhận ra được cái ảo giác ẩn đằng sau cảm nhận của mình. Tuy nhiên, phải đến bậc 5 và 6 của thiền định, anh ta vận dụng được cái nhìn thấu đó vào cả người khác. Có khi phải mất đến hàng tháng, thiền sinh mới luyện được trơn tru.

Ý nghĩa của “ý thức toàn năng” còn rộng hơn nhiều so với trải nghiệm hữu thức tiếng nói của thân xác. Đúng hơn, chất lượng của mọi sự vật ở đây đã khác hẳn. Điểm chốt ở tác động của các nơ ron gương vốn không phải chỉ có tế bào thần kinh cả chính mình mô phỏng lại động thái của tế bào thần kinh điều khiển bên trong cái thân xác lạ. Điểm chốt là ngay trong não bộ của chính mình, nguyên nhân của các động thái kia cũng được mô phỏng. Ở đây có một vấn đề rất quan trọng: lúc tôi đưa bàn tay của chính tôi ra, tôi biết lý do của tôi. Con khỉ của Giacomo Rizzolati muốn với lấy một hạt dẻ. Vậy nó nghĩ gì đây, lúc người đồng sự của Giacomo cũng định nhặt hạt dẻ? Nó có thể suy từ bụng nó ra bụng người kia lắm chứ, nó nghĩ: hẳn là gã ta đói. Mà thế thật, bởi ý nghĩa của ngôn ngữ thân xác đâu có nằm trong các động tác nó truyền tin, tin được các nơ ron gương tiếp nhận như một động tác của chính mình. Sau đó các cấp đủ thẩm quyền trong não bộ hỏi về ý nghĩa và mục đích của các động tác ấy và luận giải chúng. Đến đây, các cấp đủ thẩm quyền vẫn còn phải tiếp tục suy nghĩ về các động tác ấy. Có thể ta mới tránh được ai đó đang chuyển động đâm vào hướng của ta. Không quan trọng là liệu anh ta vừa mới bước thẳng tới một bước. Quan trọng là rồi cái bước chân ấy dẫn đi đâu, rồi cái thân xác kia vì thế sẽ chuyển động trong một phương nhất định với tốc độ nào. Tức là não bộ không chỉ in hình thế giới bên ngoài, nó còn phải đoán trước được cả cái sẽ đến. Não bộ có thể dùng vào việc ấy cái cấu tạo toàn là những tế bào thần kinh có kết nối của nó.

Điều khác biệt lớn nhất giữa một cỗ máy tính và một bộ não sinh học nằm ở chỗ xử lý tin. Ở bộ vi xử lý của cỗ máy tính, từng loạt tin chảy vào từ một đầu, được xử lý xong, lại chảy ra như trên một đường thẳng. Các nơ ron hoạt động khác hẳn. Các mối kết nối của chúng với những tế bào thần kinh khác hoạt động theo cả hai chiều.

Như thế, về cơ bản, người ta có thể tưởng tượng quá trình như sau: nơ ron chuyên về tiếp phẩm nhận thấy con khỉ đói. Tình cờ lúc ấy nơ ron ở tâm thị giác lại báo tin có hạt dẻ mà một nhà khoa học ở ekip của Giacomo vừa đưa ra. Tin lọt đến nơ ron vận động: nhặt lấy rồi ăn đi. Bàn tay được điều khiển tương ứng, con khỉ với tay nhặt hạt dẻ.

Ở chỗ này, cỗ máy tính đã chạm kịch đến giới hạn các khả năng của nó. Nhưng một mạng nơ ron thì lại xử lý được theo cả chiều nghịch: nhặt hạt dẻ rồi ăn có nguyên nhân ở một tín hiệu của nơ ron đói. Vậy con khỉ lúc này biết người kia nhặt hạt dẻ vì anh ta đói. Song liệu các tế bào thần kinh có chuyển tín hiệu của nơ ron đói ấy cho cả tâm thị giác nữa không? Ở đó có thể lúc này cũng chợt trông thấy hạt dẻ – chính là hạt mà mắt quan sát và người kia vừa nhặt lấy.

Như thế, con khỉ khai triển cái hình ảnh thể hiện điều thôi thúc nội tâm của người cộng tác viên. Cách thể hiện bằng hình ảnh như thế, khoa học gọi là “thuyết trí lực”. Tức là một lý thuyết, một mô hình về ý thức của những người khác. Ở đây nó cần đến những khả năng vượt quá tầm cảm nhận. Nó chỉ sử dụng khả năng của các nơ ron, xử lý được tin theo cả chiều này và chiều kia, và kết mạng.

Daquyvietnam,

Mời bạn xem thêm: vòng tay phong thủy giá rẻvòng tay phong thủy mệnh thủy,  vòng tay phong thủy mệnh thổ.

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!