Chẳng có một khách thể nào huyền bí bằng cái “đại không” trong những cuốn sách viết về thiền định suốt từ đời thượng cổ. Nhiều ngạn ngữ lấy bí ẩn (Koan: công án) của thiền bàn về bản chất của cái “đại không”. Trong Tâm kinh, Phật Tổ có dạy: “Không là hình thái (sắc), hình thái là không”. Cùng một từ ở đây hai nghĩa, thế nhưng lại chỉ có một nghĩa.

Tham khảo: Kinh (Sutra) là gì?

Những mâu thuẫn như thế nằm trong bản chất của đại không. Nó là một bước đi dài đến giác ngộ. Song ngay cả đại không cũng là hư không như các bậc đại sư thời xa xưa từng dạy. Nó hợp nhất cái tưởng là riêng rẽ. Cả ở đó nó cũng đầy bí ẩn. Chúng ta đã thấy có thể có những quá trình trong não bộ ẩn đằng sau đó, mà lối ra lấy lối đi của các nơ ron gương. Bây giờ tôi muốn xem xét các đại không cũng theo cách ấy: nó từ đâu ra và những quá trình nào trong não bộ chúng ta có thể được cảm nghiệm ở đây?

Đến các bậc 7 của thiền địnhbậc 8 của thiền định, hoạt động giác quan tắt hẳn. Tinh thần và thể xác bây gờ hướng về những miền thật sự cơ bản. Cái “tôi” đã bị khống chế. Cái “tôi” trong mối quan hệ này chỉ các chức năng trong một con người, chúng tạo ra hành động trong các trạng thái thái và tình huống cụ thể. Chúng ta đã thấy, cái “tôi” do nhiều mong đợi, quan điểm cơ bản và giá trị xác định. Cái “tôi” trống rỗng và nó chẳng là cái gì tuyệt đối hết. Mong đợi, quan điểm cơ bản, giá trị hết thảy đều có nguyên nhân, về nguyên tắc bất di bất dịch là ở các trải nghiệm, từng có và đã được xử lý trong cuộc sống. Cái “tôi” rỗng tuếch vì như vậy tôi chẳng chứng minh được cho một ai là sự vật thật sự như thế nào. Cái “tôi” nhìn thế giới chỉ từ phối cảnh riêng của nó và nó còn thay đổi tùy theo nhân thân. Người khác lại có những trải nghiệm khác, những thiên hướng khác, họ nhìn đời với cái “tôi” của họ. Cứ bám lấy như thế thì thật là vô nghĩa, chỉ sinh khổ đau, tiếc nuối.

Đến các bậc 7 và bậc 8 của thiền định, người ta bắt đầu khống chế được cái “mình”. Về cơ bản, đó là tính cách của con người riêng tư, đặc trưng lâu dài và thấy trước được. Trong khi đó, cái “tôi” qua tu luyện hoặc tùy thuộc một tình huống nào đó có thể thay đổi. Trước hết còn có những cảm nhận về giá trị, về đức tin và quan điểm. Chúng quyết định hành động và xác định cho mỗi người một cá tính nhất định. Người “tính hung hãn” xử lý các tình huống khác hẳn người “tính nhút nhát”. Nhưng tính cách con người còn được quyết định bởi tiểu sử cá nhân, các chức năng não bộ, các quá trình hóa (học) và điện trong thể xác. Cho nên cái “mình” không tuyệt đối, nó trống rỗng và chế ngự được. Bước đi này cuối cùng dẫn đến giác ngộ.

Vậy thì “dưới” tư duy trực cảm là cái gì đây mà dẫn được từ các bậc 5bậc 6 (trực cảm và thông tuệ) lên đến tận các bậc 7 và 8 (linh cảm và thấu thị)? Các nhà sinh học thần kinh tin rằng, hẳn là ở phía bên kia các mô phỏng trong não bộ và “thuyết trí lực“, trên mặt bằng thấp hơn, các nơ ron tất phải có một tư duy. Nơi đây gợi lại các ký ức, đánh giá và tích lũy ký ức. Các chức năng của bộ nhớ nơi đây còn xử lý các kích thích cảm quan, cân nhắc và quyết định các khả năng hành động. “Thuyết trí lực” – cho dù có giàu khả năng và bao quát được đến đâu đi nữa – cũng chỉ là kết quả của các quá trình tư duy và cuối cùng chỉ là một bộ dữ liệu, là cơ sở để mà hành động tiếp tục. Nhưng cái “tư duy” hiện thực ấy diễn ra ở đâu và như thế nào, và nhất là: nó vận hành theo cách nào?

Trong thiền định, những phần nào của não bộ đặc biệt có hiệu lực còn tùy thuộc vào thực hành và kinh nghiệm của thiền sinh. Những công trình quan trọng là của Brefczynski-Lewis và đồng sự (2007), Holzel và đồng sự (2007), Newberg và Iversen (2003), Slagter và đồng sự (2007); tổng quan là của Cahn và Polich (2009), Lutz và đồng sự (2007). Về cơ bản thiền sinh kích hoạt trước hết vùng vỏ não ở trước trán, vùng vỏ não ổ mắt trán, các phần ở vành đai răng nanh, răng cửa và ở mã ngư, cả trong hạch hạnh nhân nữa, ở chỗ gọi là nhân hạnh; đã chứng minh được hoạt động gia tăng. Như thế, thiền kích hoạt các trung tâm quản lý và xử lý tin, ký ức, tạo cơ sở cho các quyết định.

Kỳ lạ là tại vùng vỏ não ổ mắt trán còn có một cấu trúc nữa của não bộ mà Holzel và cộng sự (2007) bằng kỹ thuật cắt lớp spin hạt nhân (NMR,MRT) đã tìm ra ở những thiền sinh. Bộ phận não bộ này có thẩm quyền về các giá trị và khả năng xã hội nói chung. Thiền càng lâu thì cái cấu trúc mới tìm thấy này lộ ra càng rõ. Nó nằm đúng tại chỗ mà từ xa xưa các nền văn hóa cực kỳ khác nhau đều cho là “con mắt thứ ba”: ở chính giữa vầng trán, phía trên đường nối cặp lông mày tí chút. Luders và đồng sự (2009) lại phát hiện ra những nét thay đổi có thể so sánh, nhưng chỉ thấy ở phần vỏ não ổ mắt trán bên phải, chứ ở bên trái không có. Sự khác biệt này so với kết quả của Holzel và đồng sự (2007) cho tới nay vẫn chưa giải thích được.

Đáng lưu ý là cái cấu trúc ở vùng vỏ não ở mắt trán đó mà kỹ thuật hiện thời minh chứng được thì các nền văn hóa cổ từng biết đến nó từ cách đây hàng ngàn năm. Có thể tưởng tượng thiền sinh của thời ấy đã phát hiện được con mắt thứ ba cùng cách như các kỹ thuật chụp cắt lớp của thời nay. Chẳng là ở bất kỳ đâu đó trong não bộ, hoạt động của não gia tăng thì tất yếu nguồn cung cấp máu lưu thông cũng phải hoạt động gia tăng. Cái mà các máy chụp cắt lớp vẫn đo chính là ứng với lượng máu đó. Máu đi qua mạnh hơn thì nhiệt cũng xuất hiện, sờ da trán có thể cảm thấy. Tự thân não bộ vốn không hề có tế bào giác quan để thông báo cảm nhận ấy. Tuy nhiên, hiện tượng não phát nhiệt đâu có phải là chuyện mới lạ: người bình thản thì “đầu mát lạnh”, còn người giận dữ thì “đầu nóng rực”. Lại một lần nữa, ở đằng sau cái hiểu biết của các nền văn hóa cổ không hề có một sức mạnh vượt ra ngoài khả năng cảm nhận của giác quan, đó vẫn chỉ là quan sát cái thể xác của mình cho chính xác.

Trong đại không, thế giới hiện ra trong những mối liên hệ bao quát. Như tôi đã cảm nghiệm được trong thiền, có những khuôn hình cơ bản mà não bộ sử dụng để đặc trưng cho các khách thể của thế giới. Khuôn hình có hình ảnh, có phim ngắn, có những cảm nhận mà giác quan có thể có, lại có một kiểu hình thể xác cho quan hệ với khác thể. Đa phần là những gam màu phong phú của những cảm nhận được mong đợi. Các hợp phần của một khuôn hình được chuyển đi để gia công nguyên khối cùng với nhau và cùng một lúc. Vấn đề là cả một lượng dữ liệu thật sự lớn, cho từng khách thể trong thế giới thực tại.

Một khuôn hình điển hình gồm hai dạng thái cực, giữa hai thái cực là những dạng khác được mong đợi của cùng khách thể ấy. Như “cái bàn” chẳng hạn, giữa các thái cực của cái bàn nhỏ chân thấp kê ở đầu giường với một cái bàn ăn cao và to. Những gì khác cũng được thừa nhận là “cái bàn” thì nằm ở đâu đó giữa hai cái đầu nút ấy. Song não bộ đi còn xa hơn thế, chẳng hạn như những cái bàn cực thấp của người Nhật lắm khi làm gì có chân, người sử dụng ngồi bệt dưới sàn trước mặt bàn. Mặc dù vậy, ngay với một bộ não của người Âu, rành rọt xếp nó là cái bàn cũng không hề hấn gì, vì những cách sắp đặt để sử dụng nó như là một cái bàn còn quan trọng hơn rất nhiều. Những cảm nhận được mong đợi vào lúc ngồi ăn, vào lúc chuyện trò hay chơi bời với nhau ở bên một cái bàn của người Nhật cũng có giá trị lắm chứ. Nên người ta còn có thể gọi là cái bàn đối với cả một thứ đồ gỗ khác biệt mà không lo dấy lên hỗn loạn. Trong đại không, não bộ như thế cũng xếp quy cho các khách thể những khuôn hình còn vượt xa ra ngoài các hình ảnh. Ở đây khách thể có một “dạng”, nó đặt khách thể vào trong những tương quan rất lớn. “Dạng”, cái khuôn hình của một khách thể, là cả một  ngân hàng dữ liệu, nó sinh ra từ nhiều trải nghiệm từng có với khách thể. Cái “dạng” đó “rỗng không”, bởi lẽ nó không tuyệt đối, nó chỉ là kết quả của một câu chuyện của đời sống. “Không” là hình thái, hình thái là “không” (Sắc tức thị không, không tức thị sắc), Phật Tổ từng dạy thế.

Khuôn hình nào, ý nghĩa nào trong đại không cũng phục tùng trí nhớ ngắn hạn, chỉ khoảng sáu, bảy giây. Có một cảm nhận thời gian trong đại không. Sau độ ba giây thì ý nghĩ nào cũng phai nhạt đi rồi biến mất hẳn. Sau sáu, bảy giây thì không còn tí gì nữa hết, không gợi nhớ ý đó vốn là cái gì và nội dung thế nào. Nó đã bị lãng quên hẳn, như nó chưa hề tồn tại.

Chú ý thì đỡ quên, khi ý nghĩa hoặc giả một phần của nó xem ra hấp dẫn. Chú ý là một quá trình hữu thức, thiền sinh như thể là cá nhân hữu thức trong đại không cảm nghiệm và điều khiển được nó. Thiền sinh phải hướng vào ý nghĩ mà tập trung, cố nâng toàn bộ hoặc từng phần của nó lên bậc ý thức, qua đó ngăn không để nó bị xóa dần đi trong trí nhớ ngắn hạn. Lúc trước, vẻ như nội dung của khuôn hình hơi lờ mờ, như tóm tắt quá ngắn, so được với một cảm nhận về nội dung thì đúng hơn.

Rồi ổn định ý nghĩ đòi hỏi một độ tập trung cao; chẳng hạn trong đại không cùng lúc bao giờ cũng có nhiều ý nghĩ chờ được đánh giá. Vậy thì thiền sinh phải học được cách vỗ yên các ý nghĩ của mình ở cả trong đại không.Trong buổi thiền, lúc cao điểm tôi đã từng đếm được những sáu ý nghĩ với sáu nội dung hoàn toàn khác nhau. Dữ liệu đầy tràn, để làm chủ thật cực kỳ khó khăn, cứ như cùng lúc tập trung tiếp chuyện sáu  người khác nhau, tất cả đều đề cập những chủ đề khác nhau, mà trong đó vẫn cứ phải hoạt bát biểu đạt cảm nhận. Lý thú ở chỗ là những con số ấy lại khớp với những gì nghiên cứu đã biết. Vốn người ta đã phát hiện ra là một người cùng lúc có thể làm ngần đó việc. Tuy nhiên, con số ấy chỉ đúng khi không yêu cầu phải chú ý quá nhiều. Khi các ý nghĩ rắc rối hơn, chúng sẽ không cho phép quá nhiều ý nghĩ khác hiện hữu bên cạnh chúng. Vậy nên người ta hiếm khi có thể cùng lúc vừa gọi điện thoại vừa đọc sách, đồng thời lái xe hơi.

Từng khối ý nghĩ lọt vào đại không từng lốc với tất cả các kết quả. Khi ấy sẽ có những phần nào đó tác động “mạnh hơn” hoặc “rõ hơn”, nếu như hiển nhiên chúng chắc chắn hơn hoặc quan trọng hơn các phần khác. Cũng vậy, chỉ một ý nghĩ cũng có thể được chuyển như thể một khối vào không gian của “không”, cho dù thế nào thì chính tôi lúc thiền cũng đã cảm nhận như vậy. Thế là lại bắt đầu một quá trình tư duy mới, có thể lâu một vài dây. Những quá trình tư duy này ở xa cũng cảm nhận được, nhưng lại không cần phải chú ý cho đến lúc kết quả tới. Kết quả lại hiện ra như thể một khối, có thể xem xét hoặc gửi trả về để lại được suy ngẫm mới. Với cách này, một ý nghĩ ắt được xử lý nhiều lần và tất sẽ trở lại với một kết quả mới. Ý nghĩ gồm những gì chỉ là chuyện thứ yếu. Có khi là những khuôn hình hoàn hảo, một số khuôn hình, hoặc giả chỉ là những hình ảnh lẻ loi, những gợi ý hành động cho thể xác.

Cả gam cảm nhận được như thể “nghĩa vụ” gây “phản cảm” cũng có thể ập đến và cho một kết quả. Đó có thể là những cảm nhận mới, song cũng có thể là những hình ảnh hay cảnh tượng từ ký ức. Cảm nhận hiện ra trong “đại không” không có thật mà chỉ là những khả năng của một cảm nhận. Khó diễn tả bằng lời. Cảm nhận là đối tượng của một sự xem xét tỉnh táo, trần trụi kiểu “rồi sẽ thế nào nếu như cái cảm nhận đi lọt”. Chính “đại không” lúc ấy cũng hoàn toàn trống vắng cảm nhận được thụ cảm. Cảm nhận trong “đại không” được xử lý cùng phương cách như mọi ý nghĩ khác.

Chúng đợi đó để được chọn lọc rồi hoặc lọt vào hoặc không. Không hề bị kìm nén, chúng được đánh giá, được kiểm định tính khả dụng, sau đó chúng xuất trình những mong đợi. Như “cái bàn” thường kết nối với “bữa ăn”, bởi bên bàn người ta thường cùng ngồi ăn. Tuy nhiên, ai có ý định làm cho xong tờ kê khai tiền thuế ở bên bàn thì rất có thể lúc đầu chẳng hề cần đến các cảm nhận thông thường vẫn tự kết nối với cái bàn ăn. Cảm nhận có được lọt vào đâu mà được thụ cảm. Tuy nhiên, trong “đại không”, các cảm nhận ấy vẫn được rà lướt từ đầu chí cuối để được kết nối với sự kiện “khai thuế” và được đánh giá lại. Kết quả có thể là “việc khai thuế” sẽ có phần dễ chịu hơn nếu như lại có tách cà phê hay gói bánh quy thêm vào cho ngọt. Ý mới, ý sáng tạo vẫn thường phát sinh trong “đại không” như thế. Cảm nhận phù hợp có khi vẫn được cho vào rồi nó lại kích thích hành động.

Khuôn hình từ ký ức có chứa trong nó cả các kiểu mẫu thể xác. Như khi khuôn hình “cái bàn” hiện ra, cũng có luôn một “hướng dẫn sử dụng” tự kết nối với nó dành cho thể xác. Cách ngồi vào bàn, gồm cả những điểm nguy hiểm có thể xảy ra cho thể xác là một phần cố hữu của khuôn hình. Hệt như vậy, trong khuôn hình đó có chứa một cái bàn truyền xúc giác đi trước hết là cho đôi bàn tay và đôi chân như thế nào. Tập trung vào chỗ đó lúc ngồi thiền thì sẽ có cảm nhận, như thể hai bàn tay đang thật sự sờ mó một cái bàn trong các thái cực khác nhau của nó, tùy theo độ nhám hay là tính góc cạnh của tấm gỗ mặt bàn. Cả áp lực của tấm gỗ mặt bên nén vào bụng cũng có, với những tác động cần thiết của thể xác vươn ra đằng trước.

Mời bạn xem thêm: vòng tay phong thủy , phật bản mệnh , mặt dây chuyền văn thù bồ tát .

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!