thầy dạy thiền

Ngày nay, trong xã hội đầy áp lực với công việc, tiền bạc, quan hệ xã hội v.v… thì con người ta càng muốn tìm đến sự bình yên. Học thiền là một phương pháp giúp chúng ta vượt qua được sự trầm cảm hoặc đơn giản tăng thêm sự nhẹ nhàng trong tâm hồn. Tìm một người thầy dạy thiền như thế nào có thể cho chúng ta những kiến thức tốt, mời các bạn cùng DaquyVietnam tham khảo bài viết dưới đây của chuyên gia Heinz Hilbrecht – người đã có nhiều năm nghiên cứu về thiền định cũng như đoạt rất nhiều giải thưởng trong giới nghiên cứu khoa học thiền định.

Người thầy dạy thiền

Thiền sinh cần một chỗ dựa chắc chắn ở người khác để có thể trao đổi trải nghiệm. Ở các nền văn hóa phương Đông, họ nói nhiều về quan hệ giữa thầy và học trò. Ngày nay, người ta thường để vượt khỏi sự chú ý một thực tế là các mối quan hệ ấy có khi kéo dài nhiều thập kỷ. Quyền hạn, nghĩa vụ của ông thầy dạy thiền hệt như của bác thợ cả ở châu Âu đối với đám thợ học nghề cách đây mấy thế kỷ. Vừa là thầy vừa là bố. Thợ học nghề phương Tây ngày xưa ở ngay nhà bác thợ cả, sống ở đó, ăn ở đó. Bác thợ cả đảm nhận luôn trách nhiệm của người bố, dạy dỗ cả về đạo lý và xã hội, tức là ra ngoài khuôn khổ dạy nghề rất nhiều. Trong thực tế, vậy là người học nghề có bố mới và phải xử sự tương ứng.

Ông thầy dạy thiền ở Á châu có phần khác hẳn với ông thầy dạy môn thiền ở các trường Cao đẳng phương Tây. Ông thầy ở Á châu đồng thời cũng là cha, là bề trên về tinh thần, là thầy chữa trị về tâm lý. Theo quy định truyền thống thì trong thực tế sẽ không bao giờ tháo gỡ được sợi dây ràng buộc đó, tựa như giữa bố mẹ với con cái. Một khi đã được tôn làm thầy thì suốt đời là thầy. Quan hệ tin cậy cũng dài lâu tương ứng. Có pháp điển hành xử chặt chẽ bảo vệ cho cả hai bên, lấy chữ trung và chữ kính làm trọng, và mọi vi phạm đều có thể hủy hoại xã hội.

Ở nền văn hóa phương Tây, thiền sinh cơ động trong những mối quan hệ khác hoàn toàn. Câu hỏi thường đặt ra là “Được bao lâu?” Trò hay nghĩ rằng, họ xem phim châu Á, lại thấy thầy bảo trò “chưa đạt”, ý nói cả về sự tinh thông lẫn trải nghiệm. Trong đời sống ở phương Tây thường khi đó họ đổi thầy hoặc giả họ tự nghĩ họ vẫn có thể hành động một mình.

Ông thầy dạy thiền ở châu Âu phải được đào tạo lâu dài, có đến 30 năm là chuyện bình thường. Người trẻ có thể dạy kỹ thuật song họ không là “thầy”. Còn tùy sinh học của não bộ. Phải đến tuổi 25, não mới chín muồi về mặt sinh học, khi ấy  mới phát huy được hết khả năng tạo ra năng suất. Ngoài ra, não bộ của người học trước tiên còn phải xử lý rồi liên kết kiến thức. Cơ bản nó sử dụng vào việc đó một bộ tích trung gian, là “mã ngư”, nằm lệch sâu bên trong não bộ. Trải nghiệm và kiến thức đọng tại đây như thể nguyên liệu và cũng có thể được gọi ra bất cứ lúc nào. Nhưng tích lại lâu là ở vỏ não. Ở đây các mối quan hệ được thật sự chắp nối, rồi từ đây kiến thức mới được tuôn đến cá tính và trực cảm. Thay đổi bộ tích như vậy mất khoảng chừng hai năm. Làm thầy tất phải biết nhiều và tự trải nghiệm nhiều, vậy nên mới cần được đào tạo lâu dài.

Người học thiền cũng cần đến quãng thời gian ấy, vì họ cũng phải học thông qua “mã ngư”. Khảo sát cho thấy là ở thiền sinh sau hàng tuần rồi hàng tháng đã thấy có thay đổi. Tuy nhiên, cứ như cách nhìn của truyền thông, sự thay đổi ấy chẳng có gì là ghê gớm. Tác động vào huyết áp, mức dopamin thay đổi để giải tỏa stress đâu đã phải là thiền đích thực, đó mới chỉ là tiền đề kỹ thuật của thiền. Với những khả năng ấy, người mới học cũng có thể gây ấn tượng, nhưng chỉ là những điều rất sơ đẳng. Cái đến sau nữa kia sâu hơn nhiều và phải chấp hành các thang bậc thời gian của “mã ngư”. Có nghĩa là còn lâu, còn phải qua nhiều năm phát triển.

Vì không thấy được các mối liên hệ ấy cho nên nhiều thiền sinh, nhóm thiền và cả những ông thầy mới chỉ gãi cạo trên bề mặt. Lắm người hết kiên trì, loay hoay tìm cái mới, thử hết kỹ thuật này đến phương pháp nọ. Thị trường bí truyền có thể rao hàng, liên tục nghĩ ra cái mới và kiếm cũng bộn tiền. Ai thật sự muốn thiền, xin nhớ lại thời còn thơ ấu đi học. Từ đầu tiên đọc lên trong một cuốn sách dày cộp đâu đã được trơn tru, phép tính đầu tiên nào có phải là toán cao cấp. Nhưng không có mấy từ đầu tiên ấy và phép tính đơn giản ấy thì ở đằng sau đó thế giới vẫn cứ là khép kín. Những kỹ năng cơ sở ấy hoàn toàn không vô dụng. Tương tự như vậy trong thiền: những kết quả ban đầu, những thành quả học tập đầu tiên sau hàng tuần đã thấy, đó là “bậc tiểu học”, thế nhưng những bước tĩnh lự từ 1 đến 4, lại phải mất khoảng độ 5 năm. Sau đó, cái để học là vô tận, dễ thường có thể lấp đầy nhiều đời người.

Vấn đề còn đang tranh luận là liệu thiền sinh có cần đến một người dạy, một ông thầy. Trong Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), và trong Đạo giáo cũng thế, thường lại chỉ thấy toàn người cô đơn ở ẩn. Mặc dù vậy, những người ấy vẫn đứng chân trong một mạng hoạt động xã hội, ở đó họ có thể nói về họ và những trải nghiệm của họ. Phải có lòng tin ở đó, vì thiền sinh phải được nói ra những trải nghiệm, những cảm nhận và những cơn khủng hoảng nữa, rất cá nhân. Vậy thì thiền sinh ở phương Tây không nhất thiết cứ phải có một “ông thầy”, song họ nhất thiết phải tìm cho được những người họ tin cậy, nuôi dưỡng rồi sử dụng các mối quan hệ ấy. Ngoài ra, sách phải là người bạn đồng hành thường trực.

DaquyVietnam (theo cuốn sách Thiền và não bộ – Heinz Hilbrecht)

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!