10 thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

12 địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Sử thư Thế bản có chép: “Dung thành làm lịch, Đại nhiêu làm nên Giáp Tý”, “hai người này đều là bề tôi của Hoàng Đế. Từ thời Hoàng Đế trở lại đây, bắt đầu dùng Giáp Tý ghi ngày, 60 ngày là 1 vòng Giáp Tý”. Đại Nhiêu “chọn tính chất của Ngũ hành, chiêm tinh được thiết lập, bắt đầu lấy Giáp Ất đặt tên cho ngày, lấy Tý Sửu đặt tên cho tháng, gọi đó là “chi”. Sự việc liên quan tới trời thì dùng ngày, sự việc liên quan tới đất thì dùng tháng, bởi thế mà phân biệt âm dương…” Căn cứ vào các công trình khảo cứu của hiện đại, vào giai đoạn đầu triều Thương, người Trung Quốc cổ đại đã dùng Thiên can và Địa chi để ghi chép thời gian.

Khái niệm không gian và thời gian được bao hàm trong Thiên can và Địa chi là hệ thống phù hiệu diễn hóa sự thay đổi của vạn vật trong vũ trụ. Nó không những có vai trò quan trọng với sự phát triển của Dihcj học mà còn có sự ảnh hưởng sâu xa tới các bộ môn thuật số sau này. Trong phương pháp bổ cứu bằng đá phong thủy, chúng ta cần nắm rõ tính chất Thiên can, Địa chi của bát tự.

Bài viết

10 thiên can

10 Thiên can

Thiên can bao gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. 10 ký hiệu này là đại biểu cho 10 trạng thái và tuần tự logic của sự vật. Giáp nghĩa là "áo giáp", chỉ vạn vật phá…