Tên gọi Quan Âm Bồ Tát có nghĩa là “người lắng nghe tiếng gọi của chúng sanh” hay “Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian”. Theo Phẩm Phổ môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, sở dĩ ngài mang tên gọi như vậy là do hạnh nguyện từ bi cứu khổ cứu nạn, mỗi khi chúng sanh bị khổn ách, nguy cấp liền nhất tâm niệm danh hiệu của bồ tát, ngài liền quán xét âm thanh đó, lập tức cứu họ thoát khỏi tai ách.

1. Tên gọi Quan Âm Bồ Tát

Tên gọi tiếng Việt: Quan Âm, Quán Thế Âm

Tên trong tiếng Trung Quốc: Guānyīn hay Kuan-yin (观音)

Tên trong tiếng Phạn: Avalokitasvara

Các tên gọi & phiên âm phổ biến khác: kuan-jin (ကွမ်ယင်မယ်တော် – Myanmar), กวนอิม (Thái Lan), Gwan-eum ( Hàn Quốc), Kanji (Nhật Bản).

Quan Âm, tên gọi ban đầu là Quán Thế Âm, do hoàng đế nhà Đường là Lý Thế Dân ban lệnh cấm dân chúng được dùng tên trùng lặp với tên vua, nên chữ Thế bị lược bỏ, gọi tắt là Quan Âm hoặc Quán Âm.

Quan Âm là tên gọi phổ biến trong dân chúng, tuy nhiên trong các sách vở Phật Giáo, chữ Quan thường thêm dấu “sắc”, gọi là Quán Âm.

Tên gọi Quan Thế Âm có nghĩa là “người lắng nghe tiếng gọi của chúng sanh” hay “Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian”. Theo Phẩm Phổ môn trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, sở dĩ ngài mang tên gọi như vậy là do hạnh nguyện từ bi cứu khổ cứu nạn, mỗi khi chúng sanh bị khổn ách, nguy cấp liền nhất tâm niệm danh hiệu của bồ tát, ngài liền quán xét âm thanh đó, lập tức cứu họ thoát khỏi tai ách.

Ở phương Tây, những người theo đạo Phật dịch nghĩa Quan Thế Âm là “goddess of mercy” tức “nữ thần của lòng từ bi”.

Quan Âm Bồ Tát ở chùa Linh Ứng, Đà Nẵng

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Linh Ứng, Đà Nẵng

2. Sự tích Quan Âm Bồ Tát

Theo kinh Đại Bi Liên Hoa ghi chép, ở thời quá khứ có đức Phật ra đời là Bảo Tạng Như Lai. Cũng thời đó có vua Chuyển Luân Thanh Vương là Vô Chánh Niệm rất tôn sùng Phật giáo.

Trong số các quan đại thần có người tên Bảo Hải, thân sinh của đức Bảo Tạng, vua bèn nhờ người này đưa tới đức Phật Bảo Tạng, đứng trước ngài phát ra 48 đại nguyện.

Trước tâm nguyện của nhà vua, Đức Bảo Tạng đã thụ ký cho vua (khi đó đã là Pháp Tạng Tỳ Kheo) sau này thành Phật, hiệu là A Di Đà ở vào thế giới cực lạc.

Vua Chuyển Luân có rất nhiều người con. Trong số đó có thái tử tên là Bất Tuấn giống phụ vương, rất sùng bái Phật giáo. Chàng theo cha xuất gia rồi cũng được ngài Bảo Hải tiến cử đến gặp Đức Bảo Tạng Như Lai.

Đứng trước Đức Bảo Tạng Như Lai, thái tử đã phát ra bảo nguyện đại từ, đại bi, thương xót, cứu khổ, cứu nạn hết thảy chúng sinh bị khổ não trên thế gian này.

Trước bảo nguyện của thái tử, Đức Bảo Tạng Như Lai đã thụ ký cho thái tử thành Bồ Tát, hiệu là Quan Thế Âm, còn Bảo Hải là tiền thân của Đức Thích Ca Mâu Ni. Đức Bảo Tạng thụ ký cho thái tử rằng:

Vì lòng đại từ đại bi mà thái tử muốn quán niệm cho tất cả chúng sanh trên thế gian được cùng về cõi cực lạc. Vậy từ nay ta đặt tên cho thái tử là Quan Thế Âm….

Như thế, Quán Thế Âm có nghĩa là lắng nghe âm thanh của thế gian. Theo ghi chép trong Phẩm Phổ Môn trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh, sở dĩ ngài mang tên gọi như vậy là do hạnh nguyện cứu khổ, cứu nạn, hễ ở bất cứ đâu nếu chúng sanh gặp đau khổ mà nhất tâm niệm danh hiệu của bồ tát, ngài liền quán xét âm thanh đó mà cứu họ thoát khỏi đau thương.

Còn trong Bát Nhã Tâm Kinh, Quan Âm có tên là Quán Tự Tại. Theo pháp môn tu tập của ngài, khi quán chiếu thâm sâu vào nội tại, ngài nhận ra năm điều không có tự tính và đều là giả tạm (ngũ uẩn), ngộ ra điều này, ngài thoát khỏi mọi khổ ách đau thương.

Quan Âm Bồ Tát chùa Linh Phước

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Linh Phước

3. 12 lời nguyện của Quan Âm

  1. Nguyện thứ nhất: Phật Viên Thông Thánh Tự Tại, Quán Âm Như Lai rộng phát hoằng thệ nguyện.
  2. Nguyện thứ hai: Quyết một lòng không sợ khó, Quán Âm Như Lai thường vào Biển phía Đông (tức Nam Hải) nguyện.
  3. Nguyện thứ ba: Ở Ta bà, vào Địa phủ, Quán Âm Như Lai cứu với chúng sanh nguyện.
  4. Nguyện thứ tư: Diệt tà mà trừ yêu quái, Quán Âm Như Lai dứt trừ nguy hiểm nguyện.
  5. Nguyện thứ năm: Tay cầm tịnh bình, tay cầm nhành dương liễu, Quán Âm Như Lai ban nước cam lồ nguyện.
  6. Nguyện thứ sáu: Đại Từ bi, Đại Hỷ xả, Quán Âm Như Lai oán thân bình đẳng nguyện.
  7. Nguyện thứ bảy: Suốt ngày đêm luôn quán sát, Quán Âm Như Lai diệt trừ đường ác nguyện.
  8. Nguyện thứ tám: Phổ Đà Sơn thường lễ bái, Quán Âm Như Lai gông cùm đứt rã nguyện.
  9. Nguyện thứ chín: Tạo pháp thuyền vào biển khổ, Quán Âm Như Lai độ tận chúng sanh nguyện.
  10. Nguyện thứ mười: Tiền Tràng phan, hậu Bảo cái, Quán Âm Như Lai tiếp dẫn Tây phương nguyện.
  11. Nguyện thứ mười một: Vô Lượng Thọ cảnh giới, Quán Âm Như Lai Di Đà thọ ký nguyện.
  12. Nguyện thứ mười hai: Thân trang nghiêm, tâm sáng suốt, Quán Âm Như Lai tròn đủ mười hai nguyện.
Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Non Nước

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Non Nước, Ngũ hành sơn, Đà Nẵng

4. Các hóa thân của Quan Âm Bồ Tát

Theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Quan Âm Bồ Tát có 32 ứng hóa hiện thân là thân Phật, Bích Chi (Duyên Giác), Thanh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại, Thiên Đại tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la–môn, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân, Thần chấp Kim Cang.

Sau này, có thêm 33 hóa thân khác của Quan Âm Bồ Tát, những hóa thân này hoàn toàn không có trong kinh điển, mà xuất phát từ văn hóa tín ngưỡng dân gian tạo thành. 33 hóa thân này là Dương Liễu Quán Âm, Long Đầu Quán Âm, Trì Kinh Quán Âm, Viên Quang Quán Âm, Du Hý Quán Âm, Bạch Y Quán Âm, Liên Ngọa Quán Âm, Lang Kiến Quán Âm, Thí Dược Quán Âm, Ngư Lam Quán Âm, Đức Vương Quán Âm, Thủy Nguyệt Quán Âm, Nhất Diệp Quán Âm, Thanh Cảnh Quán Âm, Uy Đức Quán Âm, Diên Mạng Quán Âm, Chúng Bảo Quán Âm, Nham Hộ Quán Âm, Năng Tĩnh Quán Âm, A Nậu Quán Âm, Vô Úy Quán Âm, Diệp Y Quán Âm, Lưu Ly Quán Âm, Đa La Quán Âm, Cáp Lỵ Quán Âm, Lục Thời Quán Âm, Phổ Bi Quán Âm, Mã Lang Phụ Quán Âm, Hiệp Chưởng Quán Âm, Nhất Như Quán Âm, Bất Nhị Quán Âm, Trì Liên Quán Âm, Sái Thủy Quán Âm.

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở Bạc Liêu

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở Bạc Liêu

5. Các hình tượng Quan Âm Bồ Tát

5.1. Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn (nghìn tay nghìn mắt)

Trong các Hóa tướng của Quan Âm, Quán Âm Thiên Thủ là thường gặp nhất. Ở đất Hán và Tạng đều phổ biến lưu truyền pháp tu Quán Âm Thiên Thủ, Đại bi chú được dùng trong giờ tụng kinh sáng tối của các tín đồ Phật giáo Hán truyền và Tạng truyền.

Vị Quan Âm này tổng cộng có 11 mặt, 3 mặt của tầng dưới cùng là mặt màu trắng ở giữa, mặt màu xanh bên phải, màu đỏ bên trái; 3 mặt của tầng giữa là mặt màu xanh ở giữa, đỏ bên phải, trắng bên trái; 3 mặt ở tầng trên là mặt đỏ ở giữa, trắng bên phải, xanh bên trái, 9 gương mặt này đều là thuộc tướng tịch tĩnh. Bên trên có một mặt mang tướng La sát phẫn nộ nhe nanh, tóc đỏ. Gương mặt trên cùng là tượng Phật Vô Lượng Quang màu đỏ, biểu thị thuyết pháp cho chúng sinh.

5.2. Quan Âm 48 cánh tay

Trên cơ sở tượng Quan Âm nghìn tay, giản lược còn 48 cánh tay, cầm các pháp khí như: Vòng yết ma, bảo chùy… gọi là Quan Âm 48 cánh tay. Chỉ có các điểm khác biệt Quan Âm nghìn tay là tượng đứng, còn Quan Âm 48 cánh tay là tượng ngồi.

5.3. Sư tử hống Quán Tự Tại

Hình tượng Sư tử hống Quán Tự Tại là Quan Âm dưới hình tượng dược sư, trên vai mang hai bảo vật là bình sắc thuốc và đao trừ tà, ngài cưỡi trên lưng con sư tử, đôi mắt quán chiếu khắp thế gian để cứu giúp những người đang lâm bệnh, đặc biệt là bệnh phong cùi.

5.4. Thánh Quán Âm

Thánh Quan Âm hay còn gọi là Chính Quan Âm, là hình tượng Quan Âm cơ bản và thường gặp. Quan Âm được nhắc đến nhiều nhất, là chỉ thánh Quan Âm xuất hiện đại diện cho tổng thể các loại tạo tượng của Quan Âm Bồ Tát.

Hình tượng thánh Quan Âm thường thấy là đầu đội mũ ngọc, chính giữa mũ có tượng Phật A Di Đà. Thân thể hở hoặc mặc thiên y, đeo chuỗi ngọc, cổ tay đeo vòng, thắt đai ở eo, toàn thân trang sức hoa lệ. Tay cầm hoa sen hoặc kết ấn, ngồi xếp bằng.

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở thiền viện Thường Chiếu

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở thiền viện Thường Chiếu, Bà Rịa, Vũng Tàu

6. Quan Âm Bồ Tát là nam hay nữ?

Như trong mục 2 – sự tích Quan Âm Bồ Tát của bài viết này, Quan Âm Bồ Tát là thái tử Bất Tuấn, con trai cả của vua Chuyển Luân Thanh Vương. Cũng trong kinh Bi Hoa, Đức Phật luôn gọi Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là “thiện nam tử”. Sau này, căn cứ vào nhiều tài liệu, Quan Âm Bồ Tát được khẳng định là nam nhân, không thể nào là nữ được.

…vậy tại sao hầu hết hình tượng Quan Âm Bồ Tát là nữ?

Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, tín ngưỡng dân gian và Phật giáo trong suốt hàng trăm năm qua thì đức Quan Thế Âm Bồ Tát đã từng hóa hiện vào các thế gia và cả bần gia để ứng cơ hóa độ chúng sanh.

Tùy vào hoàn cảnh và thời gian, mà Quan Âm hiện tướng khác nhau để dẫn dắt chúng sinh hướng đạo. Như Quan Âm Diệu Thiện về đời vua Trang vương. Quán âm xách giỏ cá đời vua Huyền Tôn nhà Đường, Quán âm Thị kính đời nhà Minh, Quán Âm linh ứng đời nhà Nguyễn v.v…

Vào thời phong kiến, quyền lực đều nằm trong tay đàn ông. Đặc biệt giai cấp thống trị là đàn ông dễ sinh ra bạo hành, reo rắc khổ đau cho dân chúng. Tuy vậy, trong lịch sử lại ghi nhận những người này bị lung lay và điều khiển bởi nữ nhân có sắc đẹp tuyệt trần. Cho nên, có thể thấy rằng sự hiện diện của người nữ có thể chuyển hóa tâm xấu ác và thay đổi những nhân tố được coi là nguồn gốc của đau khổ. Vì vậy mà sau này, hình tượng của Quan Âm Bồ Tát trong tranh ảnh, điêu khắc, trở thành tướng mạo phụ nữ.

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Hải Đức, Nha Trang

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Hải Đức, Nha Trang

7. Quan Âm Bồ Tát trong văn hóa dân gian

Trong văn học, văn hóa dân gian, hay trong kinh sách nhà Phật, có thể nói Quan Thế Âm Bồ Tát có địa vị rất cao, chỉ sau Phật tổ.

Điều này được lý giải là do Quan Âm là vị Bồ Tát cứu độ chúng sinh, giống như tên gọi của ngài có nghĩa là “Đấng quán chiếu âm thanh của thế gian”. Khắp thế gian hễ ở đâu có người đau khổ là có Quan Âm đến cứu giúp, chính lòng từ bi này mà Quan Âm Bồ Tát rất được dân gian sùng bái.

Trong mọi ngôi chùa ở Việt Nam, đều thờ tượng Phật Tổ, Quan Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát mà ít khi thấy những vị bồ tát khác. Người Việt Nam hầu hết cũng đều thờ Quan Âm trong nhà.

Quan Âm bồ tát cũng chính là Từ Hàng đạo nhân trong Phong thần diễn nghĩa Ở Việt Nam, Nguyên phi Ỷ Lan được nhân dân gọi là Quan Âm Nữ, được thờ ở Chùa Bà Tấm.

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở một thiền viện Cần Thơ

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở một thiền viện Cần Thơ

8. Quan Âm Thị Kính

Trong các sự tích Quan Âm, thì Quan Âm Thị Kính được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam.

Chuyện kể rằng, ngài đã đầu thai và tu hành 9 kiếp. Đến kiếp thứ 10 thì đầu thai làm con gái trong một gia đình họ Mãng ở nước Cao Ly, đặt tên là Thị Kính.

Lớn lên, Thị Kính được gả làm dâu cho Thiện Sĩ của gia đình họ Sùng. Nàng là người vợ hiền, người con dấu hiếu thảo. Một lần trong lúc Thiện Sĩ đang ngủ, thấy trên cằm chồng có sợi râu, Thị Kính đang trong lúc may vá nên sẵn tiện con dao trên tay bèn lại gần định cắt sợi râu cho chồng. Không may vừa lúc Thị Kính đưa dao lên kề cổ thì Thiện Sĩ thức giấc, hoảng hồn cho rằng vợ định sát hại mình, bèn la lên thất thanh.

Mặc cho Thị Kính ra sức giải thích đầu đuôi, cha mẹ của Thiện Sĩ vẫn nghi ngờ rằng nàng có âm mưu giết chồng, hai người ép Thiện Sĩ phải bỏ vợ. Trước hoàn cảnh đó, Thị Kính phải về nhà cha mẹ đẻ, nàng ôm nỗi oan tủi hổ rồi quyết định đi tu.

Một đêm, Thị Kính cải trang thành nam giới, trốn nhà đi tu và lấy pháp danh là Kính Tâm.

Vì là gái giả trai, nên Kính Tâm có tướng mạo thanh tú, nhiều tín nữ lên chùa đem lòng thương nhớ. Trong số đó có Thị Mầu, là con gái của một phú ông giàu có. Thị Mầu thường thể hiện tình ý với Kính Tâm nhưng không được đáp lại. Thời gian sau, Thị Mầu có thai với người đầy tớ, khi bị tra hỏi lại khai Kính Tâm là cha của đứa bé.

Kính Tâm vì không dám tiết lộ bí mật của mình, nên đành ôm nỗi oan ức ra tu ngoài cổng chùa để chùa không bị mang tiếng.

Thị Mầu sau khi sinh được đứa con trai, lại đem đứa nhỏ lên chùa gửi cho Kính Tâm. Kính Tâm vì thương người nên nhận đứa trẻ nuôi dưỡng. 3 năm sau, Kính Tâm lâm bệnh nặng, biết không thể qua khỏi nên viết một bức thư dặn đứa trẻ gửi cho cha mẹ và sư trụ trì.

Sau khi Kính Tâm qua đời, mọi người mới biết được sự thật. Thị Mầu vì xấu hổ mà tự tử. Thiện Sĩ ăn năn cũng lên chùa đi tu, sau chết đi thì hóa thành một con chim.

Quan Âm Bồ Tát (Thị Kính sau khi chết) cũng cứu độ đứa con nuôi, đưa về Nam Hải làm người hầu.

Do đó, trong dân gian thường điêu khắc tượng Quan Âm Bồ Tát đầu đội mũ ni, khoác áo tràng trắng, ngự trên tòa sen, bên tay có con chim mỏ ngậm niệm châu bồ đề, bên dưới có đứa trẻ bận khôi giáp chắp tay đứng hầu.

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Bát Nhã

Tượng Quan Âm Bồ Tát ở chùa Bát Nhã

9. Quan Âm Diệu Thiện

Truyền thuyết về Quan Âm Diệu Thiện được lưu truyền phổ biến trong dân gian Việt Nam qua lối thơ truyền miệng. Bài thơ thể lục bát kể về một nàng công chúa đã xuất gia ở Việt Nam để độ hóa cho vua cha độc ác.

Công chúa là con thứ 3 của một vị vua nước Hùng Lâm (nay là Ấn Độ). Nhà vua rất mong có hoàng tử nối ngôi nhưng những người vợ sinh ra cho ông lại toàn con gái. Vua vì vậy mà sinh lòng oán hận.

Trong các chị em, chỉ có duy nhất công chúa là người yêu thích kinh Phật và muốn quy y cửa Phật. Vua cha ra sức cấm cản nhưng không thành, bèn giả vờ đồng ý cho nàng tu ở chùa Bạch Tước rồi ngầm ra lệnh cho các sư trong chùa phải thuyết phục nàng hoàn tục, nếu không thành sẽ bị giết hết.

Ý chí tu hành của công chúa không ai có thể làm lung lay. Vua cha nổi giận nên ra lệnh đốt chùa để giết công chúa, không may khi ngọn lửa vừa cháy thì có mưa ập đến. Vua cha lại ra lệnh xử trảm, khi ngọn đao vừa đưa lên thì trời nổi sấm sét, đánh văng ngọn đao trên tay đao phủ. Cũng lúc đó, có con bạch hổ xuất hiện cõng công chúa về chùa Hương.

Sau khi đi, vua cha bị bệnh hủi dẫn đến mất hai bàn tay và mù đôi mắt. Sau này, khi công chúa đắc đạo trở về đã hy sinh hai tay và hai mắt cho cha. Sau đó, nàng nhập niết bàn và cứu độ cha mẹ cùng hai chị thành Phật.

Bài thơ đã đề cao hai đặc tính của bồ tát, đó là nhân và hiếu. Được lưu truyền rộng rãi trong dân gian.

10. Chân ngôn và chú Đại Bi Quân Âm Bồ Tát

Oṃ Maṇi Padme Hūṃ (chữ Devanāgarī: ॐ मणि पद्मे हूं, tiếng Tây Tạng: ཨོཾ་མ་ནི་པ་དྨེ་ཧཱུྃ་) là một câu Chân ngôn tiếng Phạn, được xem là chân ngôn cầu Quán Thế Âm Bồ Tát và là chân ngôn quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nó còn được mệnh danh là “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” tức là “Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ”.

Đại Bi Tâm Đà La Ni (Mahā Karuṇā Dhāranī, महा करुणा धारनी), là bài chú căn bản minh họa công đức chứng quả của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát do chính ngài thuyết.

Tượng Quan Âm Bồ Tát chùa Thiên Lộc, Nha Trang

Tượng Quan Âm Bồ Tát chùa Thiên Lộc, Nha Trang

11. Đạo tràng của Quan Thế Âm Bồ Tát

Từ xa xưa, chùa Hương đã được coi là đạo tràng của Bồ Tát Quán Thế Âm ở Việt Nam. Hàng năm, cứ vào đầu xuân, khi hoa mơ nở trắng các thung lũng dưới chân núi cũng là lúc các Phật tử từ khắp nơi lại hành hương về chùa như một chốn tổ thờ Quán Thế Âm.

phật tử đến chùa hương

Phật tử đến chùa Hương ngày 2 tết năm Bính Thân

…địa chỉ 32 chùa thờ Quan Thế Âm nổi tiếng linh thiêng ở Việt Nam:

  1. Chùa Một Cột: phố Chùa Một Cột, Ba Đình, Hà Nội
  2. Chùa Bằng: phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
  3. Chùa Đào Xuyên: Chùa có tên Thánh Ân Tự, tọa lạc ở thôn Đào Xuyên, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
  4. Chùa Sùng Nghiêm: thường gọi là chùa Mía, tọa lạc ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
  5. Chùa Tây Phương: có tên là Sùng Phúc Tự, tọa lạc trên núi Tây Phương, thuộc xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
  6. Chùa Hương: Hương Sơn là một khu vực rộng lớn thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
  7. Chùa Mễ Sở: Chùa có tên là Diễn Phúc Tự, tọa lạc ở xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
  8. Chùa Bút Tháp: Chùa có tên là Ninh Phúc Tự, tọa lạc ở bên đê sông Đuống, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
  9. Chùa Bái Đính: Chùa tọa lạc ở xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
  10. Chùa Hà Trung: Chùa tọa lạc ở làng Hà Trung, xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  11. Đài Quan Âm: Đài Quan Âm tọa lạc trên núi Tứ Tượng, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
  12. Chùa Linh Ứng: Có 3 ngôi chùa Linh Ứng nổi tiếng ở 3 danh thắng du lịch thành phố Đà Nẵng : chùa Linh Ứng – Ngũ Hành Sơn, chùa Linh Ứng – Bà Nà và chùa Linh Ứng – Bãi Bụt.
  13. Tu Viện Giác Hải: Tu viện tọa lạc trên núi Phổ Đà, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
  14. Trúc Lâm Tịnh Viện: Tịnh viện tọa lạc trên đỉnh núi của mũi đảo Hòn Tre, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
  15. Chùa Linh Phước: Chùa tọa lạc ở số 120 đường Tự Phước, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
  16. Chùa Huê Nghiêm 2: Chùa tọa lạc ở số 299B đường Lương Định Của, quận 2, TP. Hồ Chí Minh.
  17. Chùa Long Hoa: Chùa tọa lạc ở số 360A Bến Bình Đông, phường 15, quận 8, TP. Hồ Chí Minh.
  18. Chùa Như Lai: Chùa tọa lạc ở số 229A đường Nguyễn Thái Sơn, phường 5, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
  19. Chùa Pháp Hoa: Chùa tọa lạc ở số 229/24B đường Thích Quảng Đức, phường 4, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.
  20. Chùa Phổ Quang: Chùa tọa lạc ở số 64/3 đường Huỳnh Lan Khanh (đường Phổ Quang cũ), quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh.
  21. Chùa Phước Hòa: Chùa tọa lạc ở số 491/14/5 đường Nguyễn Đình Chiểu, phường 3, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
  22. Chùa Quán Thế Âm: Chùa tọa lạc ở số 90 đường Thích Quảng Đức, quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.
  23. Chùa Thiên Tôn: Chùa tọa lạc ở số 117/3/2 đường An Bình, phường 6, quận 5, TP. Hồ Chí Minh.
  24. Tịnh Xá Trung Tâm: Tịnh xá tọa lạc ở số 21 đường Nguyễn Trung Trực, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.
  25. Chùa Xá Lợi: Chùa tọa lạc ở số 89 đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.
  26. Chùa Phật Tích Tòng Lâm: Chùa tọa lạc ở ấp Thanh Nguyên, xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
  27. Quan Âm Tu Viện: Tu viện tọa lạc ở số K2/77 phường Bửu Hòa, TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  28. Chùa Vạn Linh: Chùa tọa lạc ở độ cao 550m trên núi Cấm thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
  29. Chùa Tam Bảo – Hà Tiên: Chùa tọa lạc ở số 75 đường Phương Thành, phường Bình San, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
  30. Quan Âm Phật Đài: Phật đài tọa lạc tại đường Bạch Đằng, khóm Bờ Tây, phường Nhà Mát, TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
  31. Chùa Vạn Phật Quang Đại Tòng Lâm: Chùa tọa lạc ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  32. Chùa Hải Vân: Chùa tọa lạc ở số 74 đường Hạ Long, TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cuối cùng, mời các bạn nghe kinh Quan Âm Bồ Tát Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn:

Daquyvietnam,

 

Mời bạn xem thêm: mặt dây chuyền bất động minh vươngmặt dây chuyền đại nhật như laimặt dây chuyền phật a di đà.

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!