luân xa thuyết trí lực trong thiền định

Khái niệm “thuyết trí lực” chỉ khả năng khai triển được một hình ảnh sáng rõ về nội tâm của người khác hay là con thú khác. Từ cảm nhận, ý nghĩ, ý định, ao ước, nhu cầu đến cả thấu hiểu nhận thức mà kẻ ấy đang có lúc ấy.

Chẳng hạn: liệu ai đó có tự nhận thức được nguy hiểm hiện nay? Kẻ tự kỷ chắc là không có khả năng này, trẻ thơ còn phải phát triển nó trong mấy năm đầu tiên. Người, khỉ và các giống khỉ thấp hơn nữa không đánh giá nổi đồng loại trong những tình huống nào đó, ở chúng khả năng về “thuyết trí lực” thấp hơn ở người. Khả năng đồng cảm và hiểu được cảm nhận của người khác lại có những cơ sở khác trong não bộ. Singer (2006) có giải thích về giới hạn và hiện tượng nghiên cứu.

Tính năng của các nơ ron mâu thuẫn với trải nghiệm thường ngày bởi vì thường ngày một quá trình đều chỉ theo một chiều, từ nguyên nhân đến tác động. Không lật ngược được thời gian, chẳng có cái gì lại phát triển ngược lại về quá khứ. Thế nhưng não bộ lại có thể hoán đổi nguyên nhân và tác động, xử lý tin theo cả hai chiều và qua đó sáng tạo ra cái gì mới. Cái mới này có một nguyên nhân, một tác động và lẽ đương nhiên nó đi về tương lai. Nhưng không phải khi nào điều này cũng rõ rệt, vậy nên có nhiều sản phẩm của não bộ dường như “không thuộc thế giới này” nên thường được xếp quá mức vào thế giới của người ngoài cảm nhận.

Phát triển “thuyết trí lực” là một cách để mô phỏng thực tại và dựng một mô hình cho tương lai trong não bộ. Không chỉ có chuyện hạt dẻ mà đây là cả chuyện cuộc sống, chúng ta vẫn thường xuyên được chỉ dẫn về tiên đoán và “thấu thị”. Chỉ đi một quãng đường dành cho  người đi bộ thôi là thấy rõ. Cần bao lâu thì đến cái tiệm kia nhỉ, mình muốn mua đồ ở đó? Trong mô phỏng của mình, não bộ vốn đã đi cái quãng đường ấy từ lâu nên nó biết: “Còn thời gian”. Chợt gặp một ông bạn giữa đường, bạn dừng lại nói chuyện, rồi một lúc nào đó bạn cảm thấy không yên tâm, bạn tự nhủ: “bây giờ phải đi thôi”. Chẳng là não bộ đã để cho mô phỏng của nó đi tiếp và lúc này nó chợt nhận thấy, khéo mà kế hoạch thời gian lâm nguy. Khó mà đến kịp trước lúc tiệm đóng cửa, vậy thì phải cáo từ thôi. Bạn ung dung bước đến cửa tiệm, bất chấp cả một đám say bét nhè đang làm loạn trước cửa. Bạn không ngại vì não bộ của bạn đã phác sẵn một kế hoạch đối phó. Chắc chắn không có chuyện gây gổ ở đây. Nhưng kìa, họ đã giơ tay cản. Ông khách đến trước mặt bạn đã kịp lọt vào trong tiệm nhưng lại không giữ cửa cho bạn. Bạn đã tính đến điều này, song do đâu bạn lại biết?

Trong thực tế, thì các mối liên quan giữa các chức năng của não bộ với các trải nghiệm của người khác. Các nơ ron gương trước tiên vẫn là các tế bào thần kinh điều khiển thân xác mình và cùng với chúng não bộ mô phỏng chuyển động của thân xác khác. Cái “tại sao”, tức thuyết trí lực, không nhất thiết phải phát sinh ở đó. Thêm vào đó con người còn có một khả năng khác nữa là nhận biết, hiểu và xác định được cường độ cảm nhận của người khác. Khả năng này được gọi là đồng cảm. Tania Singer (2006) từng viết một bài tổng quát về đồng cảm và thuyết trí lực. Quả nhiên, bà đi đến kết luận là các mối liên quan còn đang mù mờ và cần nghiên cứu tiếp trên lĩnh vực này. Mặc dù vậy, bà cũng phác ra là thuyết trí lực phát triển kích hoạt vùng não ổ mắt trán của não bộ. Vùng não này cũng hoạt động những khi có chuyện đánh giá vấn đề hình thành với các mối liên quan và kiểm tra các cảm nhận. Những vấn đề liên quan đến đồng cảm, chẳng hạn như: “người kia đau đến mức độ nào?” đều kích hoạt những vùng não trong hệ bản tính. Các “tâm cảm nhận” trọng yếu đều nằm tại đây. Liệu cả chúng nữa có được huy động như các nơ ron gương không thì chưa rõ.

Bộ não nào cũng luôn mô phỏng thực tại và tiên đoán tương lai. Với thiền sinh, mặc dù vậy vẫn thật là ấn tượng khi cuối cùng anh ta có thể cảm nghiệm được các quá trình ấy một cách hữu thức. Một hòn đá tảng vô hình dường như đột ngột lên tiếng. Lẽ dĩ nhiên là thiền sinh khi ấy chẳng nghe thấy tiếng nói, thế nhưng bây giờ anh ta “biết” những cái mà trước đó anh ta không hề biết. Hòn đá tảng hắt ra một cái bóng chẳng hạn, cái bóng ấy có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây cối xung quanh. Thiền sinh nắm bắt hữu thức được các mối liên quan ấy, bởi anh ta với được cái mô phỏng ở trong đầu anh ta. Nếu bóng và cây không khớp nhau thì sẽ có nhiễu. Chắc có ai đó mới đặt hòn đá tảng vào chỗ đó mà cây cối với sự phát triển của chúng hãy còn chưa phản ứng gì.

Dĩ nhiên là chẳng có ai ngồi thiền năm này qua năm khác chỉ để suy ngẫm về mấy hòn đá. Đúng hơn, nếu nắm bắt trực tiếp được tư duy trực cảm thì còn khai mở được nhiều khả năng đáng quý khác, rất có ích cho đời thường. Thiền sinh nhận ra các nguyên nhân hành động của con người dễ dàng hơn, chẳng hạn vì sao, người ta lại sinh ra hung hãn? Người khác phản ứng thế nào? anh ta không thể thay đổi hành vi của người khác, xong anh ta có thể hiểu. Như thế cũng làm xì hơi cái bất an thường nảy sinh trong nhiều tình huống với người khác. Cảm nhận của mình được bảo vệ có thể luận giải tốt hơn ý định của người cùng sống chung, thiền sinh có thể phản ứng đúng mực. Hung bạo sinh căng thẳng, đòi hỏi hành động cấp tập, lắm khi dập khuôn kiểu “quát thì quát trả”. Ý thức được “thuyết trí lực” thì cái gây gổ của người không thể quyết định cái cảm nhận của mình, khuôn kia lâu dần đâm ra thừa. Thiền sinh có khả năng hành động “ở đây và lúc này”, phản ứng vừa đúng mực vừa mềm dẻo.

Tư duy trực cảm vốn là cái nguồn không bao giờ cạn của sáng tạo và của tình người. Nhìn nhận sự vật trong mối liên quan cũng đánh thức cái khả năng đưa sự vật đến chỗ hòa hợp. Vì vậy, chuyện vườn cây cảnh, chuyện cắm hoa, thậm chí đơn giản chỉ một việc nhận tách trà từ tay một vị thiền sư tất thảy đều có tác động. Tính hòa hợp ở đây không đồng nhất với tính quy luật của hình khối, màu sắc vốn vẫn phải tuân thủ những quy tắc bất di bất dịch như anh ta đã biết. Chẳng hạn phép hòa âm trong nhạc hoặc giả phép phối cảnh trong họa. Bậc thiền sư hành động khác hẳn. Vườn thiền làm gì có lối dạo với đá bó vỉa. Đúng hơn, lối đi được sắp đặt để có thể mường tượng ngay ra lối mòn trong núi, mặc gió táp, mặc mưa sa. Chơi hoa thì hãy để cho nó mọc lên trong môi trường tự nhiên, để cho nó kể câu chuyện của nó, sao lại cứ phải cắm vào bình mới “đẹp”. Nghi thức của trà đạo cũng là một câu chuyện mà ở đó ngôn ngữ không tả hết được lượng thông tin.

Một “thuyết trí lực” phát triển não bộ cho người khác thì không thể có gốc gác từ thực tại. Nó vốn là một thuyết, một giả định của não bộ về cái mình chờ đợi nơi người khác. Khi đó được khai thác, được xử lý những tin mà chính người chủ sở hữu não bộ nhiều khi cũng chỉ cảm nhận được vô thức. Xong nó lại luôn dựa vào những trông chờ có gốc gác từ não bộ của chính mình. Hòn đá cản nằm ở chính chỗ này. Ngay khi mà trông chờ không đúng thì “thuyết trí lực” cũng hết thiêng. Với thiền sinh nhận thức này là cả một chủ đề.

Về tư duy của con khỉ của Giacomo, xem xét đơn giản thì thấy có một điều trông chờ được đặt ở tâm điểm: người cộng tác viên đói hệt như con khỉ lúc anh ta nhặt hạt dẻ. Từ mình suy ra người không phải khi nào cũng đúng, dù cho lắm khi đúng đi nữa (là do giữa người với người vốn có nhiều điểm tương đồng). Ngoài ra, não bộ còn kiếm thêm tin, số tin này cũng chảy vào “thuyết trí lực”. Tuy nhiên, định kiến, và kỳ vọng của chính mình, quan điểm cơ bản rồi trông chờ riêng cũng có một tầm ảnh hưởng quan trọng. Như thế, con khỉ trông chờ là hạt dẻ chỉ dành cho nó, vì các nhà khoa học làm thí nghiệm bằng hạt dẻ, và con khỉ cũng chưa từng bao giờ trông thấy chính họ ăn hạt dẻ. Do đó, con khỉ có đầy đủ lý do cho sự trông chờ của nó. “thuyết trí lực” của nó có thể phát triển theo một chiều khác hẳn: “gã lấy một hạt dẻ của mình”. Thay vì đồng cảm với người đói, bây giờ con khỉ nổi xung với kẻ lấy cắp. Như thế, chỗ khác biệt giữa đồng cảm và hung hãn nằm ở chính trong sự trông chờ chứ không phải là ở sự cố đã xảy ra trong thực tại.

Trông chờ phát sinh ra từ trải nghiệm và các giác quan điểm cơ bản trong hệ giá trị của một con người hay một con thú. Hơn nữa, các quan điểm cơ bản và các giá trị lại cũng bắt nguồn từ trải nghiệm trong cuộc sống. Cuối cùng nó làm nên tính tình và cá tính của mỗi cá thể. Câu hỏi đặt ra là liệu chúng trùng khớp với thực tại đến đâu. Xét mặt ngoài, hẳn là sự trùng khớp phải khá cao, vì con người dù thế nào đi nữa ngày ngày lại có trải nghiệm mới, dù dựa vào đó để kiểm nghiệm và điều chỉnh. Song con người lại không vận hành cách đó. Học vốn dĩ là học ở các sự kiện đặc biệt quan trọng và trước hết là học trong những năm đầu đời. Giả sử như con khỉ của Giacomo chẳng hạn, nếu nó từng bị nhân viên phòng thí nghiệm ngược đãi ngay từ khi còn nhỏ độ một tuổi thì ai cũng hiểu, nó hẳn sẽ nổi xung ngay khi trông thấy bóng áo trắng của nhân viên phòng thí nghiệm. Ta hiểu con người học tập và suy nghĩ cũng hệt như thế, chỉ có điều đáng buồn là điều này thường diễn ra vô thức. Vậy nên với một số người, người nước ngoài nào cũng xấu xa cả, thanh niên thì lêu lổng, phần còn lại của nhân loại chỉ biết lo làm giàu. Tràn lan một thế gian quan tiêu cực, ví dụ ngược hiếm hoi dường như “ngoại lệ ngoài quy tắc”.

Khỉ trông chờ hay kỳ vọng quyết định tới mô phỏng thế giới trong não bộ, không có trông chờ đúng đắn thì chúng ta thậm chí mù quáng cũng phải thôi. Vậy nên mới phải hỏi han về ngoại hình của vật thể, lúc chúng ta muốn giúp ai tìm ra nó. Chỉ gọn một từ “chìa khóa xe hơi” thì quá ít thông tin, nếu biết là còn có tấm thẻ treo màu đỏ hoặc cái bao chìa khóa màu nâu thì triển vọng tìm ra nhiều hơn hẳn. Trong lúc đó, “chìa khóa xe hơi” phải là dữ kiện đủ, bởi thuộc loại ấy chắc chắn nào có mấy chiếc lại có thể nằm ở trong một căn hộ đâu.

Cái mà não bộ nhìn thấy trước hết là cái mà sự trông chờ của nó cho phép. Chúng ta nhốt người “vào một ngăn kéo, họ không ra khỏi đó được” rồi sống trong một ảo tưởng mà chúng ta cho là thế giới hoàn toàn có thật. Để bảo vệ cho cái ảo tưởng ấy khi đối mặt với người khác, thậm chí có lúc chúng ta để sa vào tranh cãi. Trải nghiệm thường ngày là thế. Người ta “mù quáng đi” vì ghen, lo “mất mát”, sống khép kín trong thế giới riêng của mình hoặc giả tới lúc nào đó phải có ai “mở mắt” cho họ. Họ sống trong cái mô phỏng thực tại nằm trong đầu của họ. Vậy nên mới có câu hỏi của thiền sinh: “bao giờ tôi nhìn thấy thực tại?”.

Ý thức về cái mình trông chờ đến với thiền sinh từng bước. Cảm nhận liên quan chảy qua cái màng lọc của tịnh tâm và thanh thản. Tương ứng, thiền sinh có thể tác động vào, rồi với thời gian hiểu ra và hiệu chỉnh cái “ngăn kéo tư duy” của mình. Thế nhưng cảm nhận không bám chắc vào trông chờ. Ở đây quá trình diễn như một liệu pháp tâm lý: con bệnh phải nhận thức được vấn đề của mình và bắt đầu chấp nhận. Nếu ai đó có lỗi thì cuối cùng vẫn chưa phải là con người vô nhân tính. Trong điều trị, con bệnh được người điều trị hỗ trợ, phải tự giải thoát mình khỏi những cái khuôn vô thức để có thể nhận thức và giải quyết vấn đề của mình. Có thể nói anh ta được “mở mắt”, lúc này anh ta thấy vấn đề nằm ở đâu, đã có thể tiếp cận đúng mục tiêu. Cũng thế, thiền sinh chợt phát hiện ra những khía cạnh của cái tôi mà, biết đâu, anh ta chẳng còn ưa nữa. Vì đã ý thức được cái khía cạnh này nên chúng đã nằm trên bàn làm việc rồi, cứ việc thanh thản gia công.

Từ thủa xa xưa, các bậc thiền sư vốn cũng đã nắm bắt được cái ý nghĩa quyết định đó của mong đợi. Hãy trở lại câu chuyện giác ngộ của Đức Phật một lần nữa: “đời là bất toại nguyện”, lắm khi dịch sai “đời là bể khổ”. Khổ phát sinh từ mâu thuẫn giữa mong đợi và thực tại. Ở đó thực tại trải nghiệm đã do mong đợi xác định, bởi mỗi người “chỉ nhìn thấy cái mình muốn”. Bằng thiền, người ta có thể chọc thủng vòng vây ma quỷ đó. Vận may đạt đến hạnh phúc là nguyên nhân chính thôi thúc thiền sinh tu tập. Tiền đề ở đây là vứt bỏ mọi thứ đã cũ kỹ và giã từ mọi mong đợi, tích cực tạo ra cái hư không trong tâm trí. Có một câu chuyện thiền nổi tiếng như thế này:

Vào một ngày nọ, có một học giả nổi tiếng đến yết kiến thiền sư Na In, ý muốn xin được nghe đôi chút về thiền. Thiền sư lễ phép rót trà mời khách, rót đầy tràn nước vào cả người khách. Khách hoảng hốt kêu, xin đường thì thiền sư đáp: Cái tách đã đầy làm sao còn có thể tiếp nhận thêm, nếu tôi chưa uống. Tâm trí của ngài cũng đã đầy ắp ý tưởng, muốn có chỗ cho tôi thì xin hãy dọn cho quang đã.

Daquyvietnam,

Mời bạn xem thêm: vòng tay phong thủy giá rẻvòng tay phong thủy mệnh thủy,  vòng tay phong thủy mệnh thổ.

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!