Học thiền và những nguy cơ thiền sinh cần biết

Thực hành thiền định cũng giống như nhiều môn thể thao khác, người luyện tập thiền là thiền sinh cũng dễ mắc phải những sai lầm khi thiền, dẫn đến nhiều nguy cơ, nguy hiểm.

Học thiền vốn như một bảng màu, nó bao gồm nhiều kỹ thuật để tích cực cải hoán tinh thần và cả thể lực nữa. Có thiền trong tĩnh tại và cũng có thiền trong chuyển động: Yoga, khí công hay thái cực. Mục đích là để làm thay đổi tích cực thể xác và trí lực, tựa như thể thao vậy. Thiền chính là một kiểu “thể thao cá nhân”. Kỹ thuật và quá trình thiền hướng theo bước tiến của từng thiền sinh. Dĩ nhiên là có thể có sai lầm trong luyện tập và thương tổn trong thể thao.

2 trở ngại lớn thiền sinh cần biết

Trở ngại từ chính bản thân thiền sinh

Trong thiền, vấn đề phòng ngừa thương tổn dễ vấp phải hai trở ngại lớn. Lớn nhất và hay gặp nhất lại chính là người học. “Thương tổn thể thao” trong thiền thường xảy ra là thương tổn tinh thần, lạc lối, xử lý bệnh tật không đúng cách. Ở những trường hợp như thế, thiền sinh thường thiếu cái nhìn sâu vào bản chất của vấn đề. Chẳng là vấn đề tinh thần và bệnh tật thì người trong cuộc đâu có dễ tự thấy. Thực tại ở những người như vậy là thế đấy, nhưng con người ta vốn đã quá quen thấy thế giới như mình đang thấy và cho là đúng thế. Thiền sinh cũng có thể nhầm lẫn lắm chứ.

Trở ngại từ việc tìm đúng người thầy

Trở ngại thứ hai là thầy. Thiền ở phương Tây được xem như  một kỹ thuật thư giãn ưu việt, nó cũng được dạy và được luyện tập với tinh thần ấy. Hiếm khi nhận ra nguy cơ bị thương tổn tinh thần. Trong các nhóm thiền, ý thức và nhất là kiến thức về sức khỏe tinh thần và vệ sinh tâm lý nhiều khi cũng thiếu vắng.

Trong truyền thống Á Đông, phải đủ 20 năm kinh nghiệm mới được làm thầy dạy thiền, đây là chuyện hết sức bình thường, thậm chí đó còn là mốc giới tối thiểu. Người thầy Á Đông đọc nhiều, nghe nhiều cho nên cũng vững vàng về cơ sở lý thuyết. Chí ít cũng từ 2.500 năm nay, con đường thiền được tầng lớp thượng lưu tinh thần khảo sát và theo dõi. Đạo Phật và Đạo giáo đều đặt ra yêu cầu khoa học trong triết học và thực hành của nó; phương Tây nhiều khi chỉ tiếp nhận được có mỗi hình ảnh trong mơ về mặt tâm hồn.

Hiểu sai về mục đích của thiền

Thiền đạt đến “cái không thể”: thiền sinh kiểm soát hữu thức những quá trình vốn vẫn được điều khiển vô thức ở trong thể xác. Có lúc thiền sinh còn vào đến tận cõi vô thức của chính mình. Ở Á Đông, đó là một chương trình thể thao rất rõ ràng. Có phương thức rèn luyện, có chế độ ăn uống, có kế hoạch sinh hoạt phù hợp và có trợ giúp tâm lý.

Thiền tuyệt đối không phải là thứ kỹ thuật để làm những chuyến du ngoạn nho nhỏ vào trong tâm hồn. Như người chơi thể thao hàng ngày đã sẵn có cái cơ thể được rèn luyện; tương tự, não bộ của thiền sinh cũng sờ sờ ra đó. Thiền tuyệt không phải là một “quãng nghỉ”, tạm đình mọi mối lo toan đời thường, mà nó đòi hỏi  một phong cách sống. Tập trung, thanh thản, tĩnh tại có vai trò lớn ở đây.

Thiền có cái khả năng tuyệt vời là ai cần gì thì cho người ấy cái đó. Là cái gì thì não bộ và thể xác tự định đoạt, một khi thiền sinh cho phép. Trải nghiệm cơ bản của truyền thống thiền từ cổ xưa có câu: “cái ta đã buông bỏ vì không còn ham muốn thì tự nó lại mất dạng đi đâu xa lắm”. Vậy nên, “thanh thản” và “buông bỏ” vốn là những từ ngữ hay được dùng. Không có nghĩa là “chịu thôi, nén lại, từ bỏ” mà nói cho đúng hơn phải là “để phát triển tự nhiên”. Chuyển ngữ qua khái niệm của phương Tây thì phải chăng là “giải trừ stress”. Mỗi áp lực, mỗi ham hố bệnh hoạn, mỗi thúc bách đều phong bế não bộ. Căng thẳng quá, não bộ sinh ra nhìn nhận thiển cận, hành động giản lược và nhất là chẳng học thêm được gì cả.

Stress vì thiền

Stress cũng có thể phát sinh một khi thiền nhằm để chạy trốn khỏi đời thường. Những bế tắc, những xung đột thảy đều làm cho tâm hồn đau khổ, cũng như khi thể xác bị thương tổn. Vừa đây mới được biết là ở trong não bộ những vấn đề tinh thần thật sự có tác động vào “tâm đau”. “Tình cảm bị thương tổn”, “lời nói đau lòng” vậy là có thật cả. Người bị thương tổn tinh thần hay dùng những hình ảnh tương ứng ở thể xác để nói lên trạng thái của họ. từ “bóp chết tình cảm” cho đến “xé lòng”. Đau thôi thúc chạy trốn. Đau thể xác là thế, đã quá rõ là mọi người đều chấp nhận. Khi không còn cách thì có thuốc giảm đau ở hiệu thuốc. Đau tinh thần lại khác. Phương thuốc tốt nhất ở trường hợp này là một người có thể thông cảm, biết lắng nghe, cho mình hy vọng và giúp mình tìm đường trở lại với cuộc sống. Không có được những người như thế sẽ vô cùng đau khổ.

Đau tinh thần dẫn dắt nhiều người đến với thiền. Có thể đúng đường nếu như vẫn chẳng quên đời thường. Có một số ít người “bỏ trốn vào tín ngưỡng” hoặc giả “lặn mất tăm trong tĩnh lự”. Thế giới bí truyền vẫn có một căn phòng kín. Người “vào rồi đóng sập cửa để chặn ưu tư lại”. Trong các giới bí truyền cũng có những người khác, một đề tài để trao đổi, những trải nghiệm thành công của cá nhân.

Chuyên gia nghiên cứu thiền định Rubin đã từng khảo sát các hiện tượng ấy về mặt tâm lý và nhận thấy nhiều khi thiền được vận dụng như thể một phương cách để rút khỏi chốn trần tục với những bế tắc của nó. Kỹ thuật trước tiên là giữ khoảng cách cho ý nghĩ và cảm nhận, như vậy đây chính là thứ “thuốc giảm đau” đang được tìm kiếm. Tuy nhiên, như thế sao khỏi bệnh được, khi mà “thuốc” lại chỉ trấn áp triệu chứng.

Thiền không đơn giản là “tốt” mà cũng chẳng dẫn đến một mục tiêu tích cực đã xác định. Quyết định là lý do dẫn đến thiền, là bước ngoặt trong đời sống liên quan đến thiền. Không phải khi nào thiền cũng phải khích lệ để cho một con người phát lộ ra các khía cạnh tích cực; nó cũng có thể che chắn, bọc lót con người về mặt tâm hồn, khiến họ không còn thấy được thế giới thực tại, để rồi xung đột cứ tích tụ và cuối cùng là thảm họa. Những con người như thế đâu có hiểu được cái đích thực của Kinh kệ, hay luận thuyết phương Đông.

Về cơ bản, mọi giáo lý của mọi thế giới quan trong thiền tông đều nhắm vào các mối quan hệ với những người khác và với cuộc sống hoàn toàn bình thường. Thiền trong tư thế tĩnh lự chỉ có cái vỏ ngoài là rút, là ẩn. Đó chính là một không gian tĩnh lại, thiền sinh với tinh thần ham hiểu biết và dám làm từ trong đó đi ra để thâm nhập vào cuộc sống. Không có sinh năng huyền bí ở đó, cũng chẳng có gì là ở “mãi tận bên kia trải nghiệm”. Chốn sinh sống của các bậc hiền triết phương Đông và cả phương Tây thời xưa là chỗ làm việc, gia đình và xã hội. Kẻ muốn rút đi khỏi chốn ấy là kẻ tự gây ra nguy cơ cho chính mình.

DaquyVietnam,

Mời bạn xem thêm: vòng tay phong thủy ,  mặt dây chuyền bồ tát đại thế chí , mặt dây chuyền văn thù bồ tát .

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!