sao thái tuế

Thái tuế có hai trường hợp: Đương sinh Thái tuế và Du hành Thái tuế. Thái tuế là chủ tể của một năm, là đứng đầu trong các thần sát. Quan điểm về Thái tuế có hai trường hợp, một là niên trụ trong tứ trụ, gọi là Đương sinh thái tuế. Hai là vòng tuổi luân chuyển hàng năm, hay còn gọi là Du hành Thái tuế, cũng chính là lưu niên mà chúng ta thường nói đến. 

Đương sinh Thái tuế là chủ cả cuộc đời. Du hành Thái tuế hàng năm đều du hành 12 cung, cát hung họa phúc của bốn mùa trong một năm đều được xác định nhờ nó. Du hành Thái tuế nếu như tương hợp với đại vận thì năm đó có thể có cát lợi. Nếu không tương hợp với nhau thì năm đó lại là năm hung họa.

Trong các mệnh lý viết: Nếu Du hành Thái tuế thương khắc nhật can, tuy nói là cũng có hung họa nhưng khá nhẹ nhàng. Nếu là nhật can thương khắc Du hành Thái tuế thì hung họa lại nghiêm trọng. Thái tuế thương khắc nhật can, ví dụ như năm Canh khắc ngày Giáp (Kim khắc Mộc), đây gọi là thiên cung; nhật can thương khắc Thái tuế, ví dụ ngày Giáp khắc năm Mậu (Mộc khắc Thổ) thì được gọi là Thiên tài. Trong Ngũ hành nếu có tiếp ứng, tứ trụ can chi cũng có tương hợp thì tình hình sẽ trở nên tốt hơn. Ví dụ như ngày Giáp khắc năm Mậu, trong tứ trụ Ngũ hành có Canh Thân Kim, hoặc trong đại vận có Kim chế phục Giáp Mộc, Giáp Mộc thì không thể khắc Mậu Thổ; ví dụ trong tứ trụ có Quý và Mậu tương hợp, Mậu Quý hóa Hỏa, có thể khắc chế được Giáp Mộc. Cứ như vậy có thể hóa hung thành cát.

Trong hai trường hợp đặc thù, tứ trụ, đại vận trong mệnh và Thái tuế phát huy tác dụng là Chân Thái tuế và Trưng Thái tuế. Thái tuế lại chia thành Chân Thái tuế và Trưng Thái tuế. Trong sách mệnh lý có viết, giờ sinh nếu trùng với Thái tuế, ví dụ như người sinh ngày Giáp Tý vừa đúng vào năm Giáp Tý thì đây là Chân Thái Tuế, còn được gọi là Chuyển chỉ sát. Nếu như đại vận của một mệnh hòa thuận với Giáp Tý Thái tuế thì đây sẽ là năm cát lợi. Nếu đại vận và can chi Giáp Tý Thái tuế hình, xung, hại, khắc nhau thì càng có hung họa. Ví dụ như người sinh ngày Quý Tỵ gặp năm Quý Tỵ, lại gặp đại vận lưu niên của Đinh Hợi, Thủy Hỏa tương khắc thì đây sẽ là năm hung. Can chi của ngày xung khắc với Thái tuế được gọi là Trưng, can chi của vận xung thương Thái tuế cũng được gọi là Trưng, can chi Thái tuế và can chi của ngày có tính chất tương phản nhau cũng gọi là Trưng. Nếu gặp vào trường hợp Trưng, tai họa thường khó tránh. Ví dụ lưu niên là Giáp Tý lại gặp đại vận cũng là Giáp Tý, đây sẽ được gọi là “Tuế vận song hành”, là đại cát. Nhưng nếu gặp phải tứ trụ can chi có Dương nhẫn, Thất sát thì chủ hung, còn nếu có Tài, Quan, Ấn thụ thì cũng là cát lợi. Lại ví dụ như ngày Giáp Tý gặp Thái tuế Giáp Tý thì đây gọi là “Nhật niên song song”. Nếu bậc quân tử gặp được trường hợp này thì gọi là “Quân thần khánh hội”, năm này nhất định có thể gặp mặt quân chủ, có chuyện vui về bàn luận đại sự. Nếu như là người đang làm quan thì năm nay sẽ có cơ hội thăng tiến, can chi trong tứ trụ hài hòa với Thái tuế Giáp Tý thì càng tốt. Nếu là tiểu nhân gặp trường hợp này thì sẽ là bất lợi nhất, nếu can chi trong tứ trụ hài hòa với Thái tuế Giáp Tý, tai họa có thể sẽ nhẹ hơn. Cho nên trong sách mệnh lý cho rằng, Thái tuế đang đứng đầu, các thần đều không giám đảm đương, nếu không gặp phải quan sự kiện cáo thì cũng trùng tang, đây chính là muốn nói đến đạo lý này. Nếu lại gặp hung sát Cấu giảo, Nguyên vong, Hàm trì, Cô khổ, Trạch mộ, Bệnh tử, Quan phù, Tang điếu, Bạch hổ, Dương nhẫn, Bạo bại, Thiên ách cùng tề tựu thì nhất định họa hoạn vô cùng, thậm chí dẫn đến tử vong.

Nếu như ngày Giáp gặp phải năm Mậu Thái tuế, Giáp tương sinh với Dần, Mão, Mùi (đều là Mộc), trong tứ trụ lại gặp phải Giáp, Ất Mộc, đều khắc Mậu. Nếu như năm Mậu trong trụ không có Kim cục Canh, Tân, Tỵ, Dậu, Sửu khắc chế Mộc thì Hỏa cục Bính, Đinh sẽ đốt cháy tất cả Mộc, chủ đại hung. Ví dụ có một mệnh bát tự là Mậu Thìn, Mậu Ngọ, Mậu Tuất, Giáp Dần; Thổ Mộc tương khắc, lại thuộc dương, gặp phải năm Nhâm Thân tháng tư ất Tỵ, đây là mệnh hung họa kề cổ, là mệnh đầu rơi mất mạng; lại so sánh với một mệnh là Ất Sửu, Ất Hợi, Nhâm Thân, Ất Tỵ gặp phải năm Tân Mùi, Bính Dần, Nhâm trong nhật can khắc Bính của Thái tuế (Thủy khắc Hỏa), Canh thân của nhật chi (Canh là Kim), khắc Giáp Dần của Thái tuế (Kim khắc Mộc), lại cộng thêm Dần Tỵ, Tỵ Thân đều bất hòa, lại hành đại vận Tân Mùi, làm tổn thương Mộc cục của Thái tuế, đều là không cát lợi. Gặp vào tháng Giáp Ngọ các năm khác, Hỏa thế thịnh vượng càng tương khắc, có thể khiến cho mất mạng.

Thông thường mà nói, nhật phạm tuế quân tại 5 can dương là Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì rất nghiêm trọng, còn tại 5 can âm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì nhẹ hơn. Nếu như nhật can là Thiên đức Nguyệt đức, Ngũ hành Thái tuế có tác dụng bổ sung cho nhật can thì không có gì là đại họa, ngược lại có thể biến thành cát lợi. Nếu như nhật can và Thái tuế có can chi xung kích, trong tứ trụ là như vậy, lại có can chi lưu niên thì cũng không có gì đáng lo lại; nếu Thái tuế khắc nhật can, hoặc thời trụ khắc Thái tuế, nhất định có tai họa, nhưng có thể căn cứ vào vị trí của Tý để phán đoán.

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!