Ý nghĩa tên Công, đặt tên con là Công

Công

Đặt tên con là Công, đặt tên doanh nghiệp là Công. DaquyVietnam xin giới thiệu tới các bạn một số tên hay là Công và ý nghĩa của tên gọi như Bình Công – Chí Công – Chiến Công – Danh Công – Hiếu Công – Huy Công – Kỳ Công – Minh Công – Phụng Công – Quốc Công – Thành Công – Tiến Công – Võ Công – Vương Công.

Bình Công

Công bằng, tôn trọng lẽ phải. Là sự hợp lý trong cuộc sống, bảo đảm quyền và lợi ích ngang nhau trong cùng một hoàn cảnh, một điều kiện, lấy lẽ phải làm công cụ để giải quyết mâu thuẫn, không vì tình riêng mà bên trong bên khinh. Tên gọi mang ngụ ý về đức tính không vị kỷ vụ lợi, thưởng phạt công tâm, phải trái rạch ròi.

Chí Công

Rất công bằng, hết lòng vì việc chung. Thuộc một vế trong thành ngữ “chí công vô tư”, chỉ người tận tụy với việc công, việc nước, biết tôn trọng lẽ phải, công tâm trong ứng xử, đặt quyền lợi chung lên hàng đầu. Trong bài Thiên vấn phú của Phan Bội Châu có câu “Vẫn từng nghe thiên đạo chí công, há lẽ cường phù nhược ức: Vẫn cũng biết thiên ân phổ biến, vì sao bị sắc tư phong”.

Chiến Công

Lập được thành tích trong chiến tranh. Là những người tham gia chiến đấu có tinh thần gan dạ và dũng cảm, không quản ngại đổ máu hy sinh, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, lập được chiến công vang dội, được mọi người khâm phục và ngợi ca.

Trong tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn có câu:

Lão thiên trước ý hộ anh hùng

Hộ anh hùng bách chiến công

Dịch nghĩa: Ông trời già dùng mưu chước che chở cho người anh hùng. Giúp người anh hùng lập được trăm chiến công. Khi dịch sang chữ Nôm, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã cô đọng lại thành một câu thơ “Hộ chàng trăm trận nên công”.

Danh Công

Công trạng và tiếng tăm. Nghĩa tương tự Công Danh. Chỉ người có thành tích được đánh giá là công lao đáng kể đối với nước nhà và xã hội, được nhiều người biết đến và ca ngợi.

Cách giải khác về Danh Công: Vị công hầu nổi tiếng. Chỉ nhà quý tộc mang tước công (quận công, công tước) có tiếng tăm trong xã hội. Trong bài thơ Quá quận công Nguyễn Hữu Độ sinh từ hữu cảm của Nguyễn Khuyến có câu “Đãn kiến đệ nhị vô danh công” dịch thơ: Chỉ thấy hạng nhì không tước danh. Ghi chú: Câu thơ mượn lời ngạn ngữ “Thứ nhất quận công, thứ nhì đồng” và viết trẹo lại thành ngụ ý: Nơi sinh từ của Quận công chỉ thấy kẻ hạng nhì không tước, không danh đến giải quyết cái…nỗi buồn trong bụng (đại tiện). Nội dung toàn bài thơ nhằm diễu cợt và đả kích thói ngông cuồng (chưa chết đã xây sinh từ để thờ phụng minh) của Quận công Kinh lược Bắc Kỳ Nguyễn Hữu Độ, một kẻ thân Pháp và chịu trách nhiệm chính trong việc phá hủy chùa Báo Thiên. Sau ngày giải phóng, chính quyền Hà Nội đã rất thâm thúy khi đổi tên đường Sinh Từ (nơi có sinh từ Nguyễn Hữu Độ) thành đường Nguyễn Khuyến.

Cách giải nghĩa khác về Danh Công: Người thợ giỏi nổi tiếng. Ngạn ngữ có câu “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” dịch nghĩa: Giỏi một nghề, vinh hiển một đời. Người thợ có tay nghề cao, làm ra những sản phẩm tinh xảo thì ở thời nào cũng được đề cao và có thể sống sung túc bằng nghề.

Hiếu Công

Trong mọi công việc luôn đặt chữ Hiếu làm đầu. Là người con hiếu thảo, lấy việc chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ là trọng trách đến công các bậc sinh thành ra họ. Tên gọi thể hiện ước muốn mai sau con sẽ thành người hiếu thảo, khi cha mẹ già yếu được con chăm lo tận tụy. Trong truyện thơ Nôm Nhị độ mai (khuyết danh) có câu “Có ra chi, phận má hồng. Khôn đem chữ hiếu, đến công chữ cù?

Huy Công

Công bằng sáng tỏ. Nghĩa gần gũi với Minh Công. Chỉ sự công bằng được soi rọi giữa thanh thiên bạch nhật, không bao che và thiên vị, không cậy quyền ỷ thế mà ức hiếp người khác, đem lại lẽ phải và công lý cho mọi người để ai cũng được hưởng cuộc sống yên ổn với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ trong một xã hội dân chủ, tiến bộ, văn minh và bình đẳng.

Kỳ Công

Công lao phi thường. Là người lập được thành tích vượt trội mà người bình thường khó lòng làm được khiến mọi người phải trầm trồ thán phục. Tên gọi mang ngụ ý, cha mẹ mong đợi con mai sau sẽ là người có kỳ tích sáng chói, trở thành tấm gương sáng giữa đời. Cũng có thể hiểu Kỳ Công theo nghĩa Hoàn thành công việc khó khăn ngoài sức tưởng tượng.

Minh Công

Ánh sáng công bằng. Nghĩa gần gũi với Huy Công (TT A). Là môi trường sống tốt đẹp và tươi sáng trong một xã hội dân chủ, tiến bộ, văn minh và bình đẳng. Cũng có thể hiểu theo nghĩa Sự lan tỏa của lẽ phải ở đời, xua tan mọi bất công và áp bức, đem lại cuộc sống tươi sáng, | hạnh phúc và bình yên cho mọi người.

Phụng Công

Hết lòng vì công việc chung. Chỉ sự dốc sức bền chí chăm lo việc dân việc nước bằng tấm lòng trong sáng và nhiệt tình, trung thành và tận tụy mà không màng tới danh lợi hay địa vị cho bản thân. Tên gọi đề cao đức hy sinh của những tấm gương cao cả và đẹp đẽ đã dành cả cuộc đời phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc.

Quốc Công

Có công lao với đất nước. Là người tận tụy phụng sự đất nước, lập chiến công lớn, được Tổ quốc tặng thưởng, ghi công. Tên gọi vinh danh những người có cống hiến lớn lao cho quốc gia – dân tộc, xứng đáng được lưu danh sử sách. Thời phong kiến, Quốc công là một tước hiệu hàng đầu do nhà vua ban tặng cho hoàng thân quốc thích hoặc quần thần có công lao lớn, thí dụ như Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương.

Thành Công

Hoàn thành công việc một cách tốt đẹp. Người có cuộc sống sung túc và hạnh phúc là cá nhân thành công; ngôi nhà no đủ và êm ấm là gia đình thành công, đất nước giàu mạnh, dân chủ và văn minh là quốc gia thành công. Hồ Chí Minh nói “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Tiến Công

Đánh lên phía trước. Là một thuật ngữ quân sự chỉ hành động tiến quân với khí thế mạnh mẽ đánh vào đội ngũ, doanh trại, đồn bốt hoặc thành lũy của kẻ thù. Về sau nghĩa được mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhưng đều dùng chỉ việc sử dụng lực lượng nhằm chinh phục một đối tượng cụ thể (thí dụ: phong trào tiến công diệt giặc dốt, giặc đói sau Cách mạng Tháng Tám).

Võ Công

Thành tích quân sự. Đồng âm đồng nghĩa với Vũ Công. Thường dùng chỉ các nhà cầm quân, các tướng lĩnh kiệt xuất, giỏi dụng binh khiển tướng, thao lược trên chiến trường, lập nhiều công lớn, lưu danh sử sách. Nhân dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tròn 100 tuổi, Giáo sư Vũ Khiêu có tặng ông đôi câu đối:

Võ công truyền Quốc sử

Văn đức quán nhân tâm

Dịch nghĩa: Sự nghiệp quân sự lưu truyền sử sách nước nhà. Đạo đức nhân văn bao trùm lòng người.

Vương Công

Tước Vương dành cho quần thần dưới thời phong kiến. Là những vị đại thần thuộc dòng dõi nhà vua được phong tước Vương (thí dụ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải), thường nắm các trọng trách hàng đầu trong triều đình, có quyền lực dưới một người trên vạn người. Trong lịch sử Việt Nam, có một số công thần tuy không thuộc dòng dõi nhà vua nhưng cũng được phong tước vương. Ghi chú: Ở một cấp độ khác Vương có thể là vua, song phải gọi là Quốc vương.

DaquyVietnam,

 

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!