Bảng

Đặt tên con là Bảng, đặt tên doanh nghiệp là Bảng. DaquyVietnam xin giới thiệu tới các bạn một số tên hay là Bảng và ý nghĩa của tên gọi như Đồng Bảng – Giáp Bảng – Khoa Bảng – Kim Bảng – Xuân Bảng.

Đồng Bảng

Thi đỗ cùng khoa. Chỉ những người thi đỗ cùng một khoa trong kỳ thi nho học thời phong kiến, tên tuổi cùng vinh danh bảng vàng treo trên cửa khuyết (cửa ngoài hoàng cung). Trong đời sống xã hội, những mối quan hệ được kết cấu bằng chữ Đồng thường phản ánh sự tương tác tích cực, như đồng môn, đồng khoa, đồng bảng, đồng nghiệp, đồng chí, đồng hành, đồng tâm…

Tài trợ nội dung

Trong bài thơ Tuế lục thập tam của Trương Công Giai (quan lại thời Lê – Trịnh) có câu:

Đồng bảng hữu quy thường mẫn cảm

Cố hương khách đáo bất kiêu xa

Dịch thơ: Cùng khoá, bạn qua thường cảm động. Chốn quê, khách đến vốn tình thân.

Trong bài thơ Huynh đệ đồng khoa cách của Khiếu Năng Tĩnh (quan lại nhà Nguyễn) có câu:

Cao khoa hữu nhật quan đồng bảng

Du hậu quang tiền bất quý danh

Dịch thơ: có ngày chung bảng cao khoa đỗ. Ông bà, con cháu cũng vinh danh.

Giáp Bảng

Bảng tiến sĩ. Chỉ bảng vàng đề tên người thi đậu tiến sĩ thời quân chủ. Trong học vị tiến sĩ còn được phân làm 3 hạng; đứng đầu là Đệ nhất giáp tiến sĩ lấy Tam khôi gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa; hạng tiếp theo là Đệ nhị giáp tiến sĩ gọi là Hoàng giáp; hạng cuối cùng là Đệ tam giáp tiến sĩ gọi là Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.

Trong bài thơ Vịnh tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến có câu “cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai. Cũng gọi ông nghè có kém ai. Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng. Nét son điểm rõ mặt văn khôi”. Trong bài thơ Tặng đốc học Hà Nam cũng của Nguyễn Khuyến có câu “cậy cái bảng vàng treo nhị giáp. Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên”.

Ghi chú: Thằng mặt trắng chỉ học trò, như câu thành ngữ “Bạch diện thư sinh”. Tam nguyên chỉ ba đồng bạc, còn mang nghĩa là người đỗ đầu cả ba khoa: thi hương, thi hội và thi đình. Bài thơ dùng thủ pháp chơi chữ nhằm mỉa mai châm biếm viên quan coi việc học ở tỉnh Hà Nam là kẻ cậy tiếng tăm danh vị để ăn của đút lót và nặn bóp tiền bạc của lương dân, không chừa cả đứa học trò.

Khoa Bảng

Khoa thi và bảng vàng đề danh (nghĩa đen). Chỉ người đi thi và thi đậu nền Nho học thời quân chủ (nghĩa bóng). Nghĩa mở rộng là Nhà khoa bảng chỉ gia đình có nhiều người học cao và đỗ đạt khoa cử, dòng dõi khoa bảng chỉ dòng họ có truyền thống học cao và đỗ đạt khoa cử, làng khoa bảng chỉ ngôi làng hiếu học, có nhiều người đi thi và đỗ đạt khoa cử…

Ca dao có câu “Em thời canh cửi trong nhà. Nuôi anh đi học đăng khoa bảng vàng. Trước là vinh hiển tông đường. Bõ công đèn sách, lưu phương đời đời”. Trong bài thơ Tự tình của Cao Bá Nhạ có câu “Đời đời khoa bảng xuất thân. Trăm năm lấy chữ thanh cần làm bia”.

Kim Bảng

Bảng vàng. Nghĩa gần gũi với Xuân Bảng. Chỉ bảng niêm yết danh sách các thí sinh thi đỗ trong các kỳ thi dưới thời quân chủ. Thời xưa, danh sách những người thi đậu được viết trên giấy vàng rồi dán lên bảng gỗ, người đời gọi là bảng vàng nhằm tôn vinh những người đỗ đạt (màu vàng của tờ niêm yết được chuyển hoá thành vàng là kim loại quý). Kim Bảng là một huyện thuộc tỉnh Hà Nam, thuộc vùng châu thổ sông Hồng, miền Bắc Việt Nam.

Trong bài thơ Tứ tiến sĩ của Trần Nguyên Đán có câu:

Danh đề chủ khuyết huyền kim bảng

Mã được hoa cù phất cẩm y

Dịch thơ: Danh sáng bảng vàng ngời cửa khuyết. Ngựa ruổi đường hoa rạng gấm y. Ghi chú: Chủ khuyết tức cửa khuyết chỉ cửa ngoài cung điện của nhà vua (chủ) có lỗi đi ở giữa.

Trong bài thơ Nôm Khi bảng vàng đề tên của Lê Thánh Tông có câu “Thưa sách đan trì ai bén chiêu. Bảng vàng mừng đã thấy tên treo”. Trong bài thơ Nôm Đuốc hoa đêm động phòng của Lê Thánh Tông có câu “Mừng ấy lại mừng kim bảng nữa. Dường bằng gấm lại có hoa thêm”.

Xuân Bảng

Bảng niêm yết danh sách thí sinh thi đỗ trong các kỳ thi Hội thời xưa. Nghĩa gần gũi với Kim Bảng. Dưới thời Quân chủ, các nhà nước phong kiến Việt Nam thường tổ chức 3 loại hình thi là thi Hương (cấp thấp), thi Hội (cấp trung) và thi Đình (cấp cao); Các kỳ thi Hội hay tổ chức vào mùa xuân nên bảng niêm yết người thi đỗ được gọi là Xuân Bảng ; người thi đỗ kỳ thi Hương mới được thi Hội, người thi đỗ kỳ thi Hội mới được tham dự thi Đình.

Thí sinh đỗ thi Hội được mang học vị cử nhân hoặc hương cống ; từ năm 1442 thí sinh đỗ thi Hội được gọi là tiến sĩ (tức ông nghè); thời nhà Nguyễn, thí sinh thiếu điểm đỗ Tiến sĩ có thẻ được xét cấp học vị Phó bảng.

Trong bài thơ Nôm Mai – III của Nguyễn Trãi có câu “Huống lại bảng xuân xưa chiếm được. So tam hữu chẳng bàng mày”. Ghi chú: Tam hữu còn gọi là Tam giới tức Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới , theo triết lý nhà Phật cả ba cõi đều vướng phiền não, khổ đau.

DaquyVietnam,

Vạn danh kỳ thư.

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!