Bàn về kinh dịch

“Kinh dịch là cuốn sách lạ trong văn học của nhân loại. Thể tài cuốn sách này không giống một cuốn sách nào, bởi cái gốc của nó chỉ là một nét vạch ngang. Do một nét vạch ngang đảo điên xoay xỏa thành một cuốn sách, vậy mà hầu hết các chi tiết ở trong đều có thể thống nhất, luật lệ nhất định, chứ không lộn xộn”- Khái luật Kinh Dịch, Ngô Tất Tố.

Vạch ngang đó chia thành hai nghi:

Tài trợ nội dung

Một nghi là một nét liền (—) gọi là “vạch lẻ”, làm phù hiệu cho khí dương.

Một nghi là một nét đứt (- -) gọi là “vạch chẵn” làm phù hiệu cho khí âm.

Nói về Âm, Dương, Khái luật Kinh Dịch viết “trong khoảng Trời – Đất còn có gì? chỉ là hai chữ Âm Dương mà thôi…”

Khảo cổ học đã khám phá ra khái niệm âm dương có từ rất sớm trong văn hóa của người Bách Việt, biểu tượng qua họa tiết đồng tiền trinh hình tròn lỗ vuông được khắc họa đậm nét trên trống đồng Đông Sơn. Triết lý âm dương là nền tảng cấu thành Kinh Dịch.

Theo truyền thuyết của người Trung Quốc thì cho rằng vua Phục Hy phỏng theo Hà Đồ trên lưng con Long Mã mà vạch ra Bát Quái, từ đó lập thành 64 quẻ Kinh Dịch. Mấy ngàn năm sau, khi loài người có chữ viết, cũng theo Truyền Thuyết của Trung Quốc, Chu Văn Vương mới điền lời Kinh cho các quẻ, Chu Công Đán viết lời Kinh cho các Hào và Khổng Tử viết Thoán truyện, Tượng truyện… Các túc nho đời sau lý giải, bằng nhiều cách mà trở thành một pho Kinh Dịch đồ sộ.

Việt Nam là nước nằm trong vùng Đông Nam Á, cái nôi của triết lý âm dương nguyên thủy, cho nên khi Kinh Dịch được truyền bá vào Việt nam là sự trở về với nguồn cội, nó nhanh chóng được các bậc túc nho nước ta hào hứng đón nhận. Khi Kinh Dịch được dịch ra chữ Quốc ngữ nó đã tiếp cận với số đông người Việt Nam. Tuy nhiên đến nay sự hiểu biết về Kinh Dịch còn rất sơ sài, đa số sử dụng để xem thẻ cầu may, chỉ thiên về mặt bói toán vậy. Các Đình, Chùa nhiều nơi có bàn rút thẻ xem quẻ, nhưng lời lẽ trong quẻ chỉ là “thuật dự đoán theo bát quái”, khó hiểu hoặc hiểu sai về bản chất của Kinh Dịch.

Kinh Dịch là một cuốn sách sâu rộng và khó hiểu. Kinh Dịch còn khó hiểu ở chỗ không viết thành văn mà chỉ dùng hình tượng, vạch hào, kèm theo lời Kinh rời rạc và lấp lửng (có khi chỉ là một chữ Hán, một từ hoặc một ngữ, không ra câu cú)… Cho nên một cuốn sách uyên bác mà nằm im trong ngăn kéo của thư viện, hiếm có người đủ kiên nhẫn đọc kỹ một cuốn Kinh Dịch để ứng dụng; sách chỉ để dùng cho các nhà nghiên cứu.

Tôi muốn chuyển thể cái hồn của 64 quẻ Kinh Dịch thành thơ Lục bát quen thuộc để mọi người dễ đọc, dễ hiểu.

Việc làm đó là quá mạo hiểm, tưởng chừng không thể làm nổi, bởi lẽ các bậc túc nho đã tốn không ít giấy mực để diễn tả Kinh Dịch, nhưng chưa bao giờ trọn vẹn.

Quẻ 26 Kinh Dịch là quẻ “Sơn Thiên Đại Súc”. Nghĩa của quẻ là “Núi chứa cả trời, chứa đựng lớn quá”

Đại Súc là núi chứa trời

Chứa đầy bản thiện, ghi lời tiên tri

Đạo trời trong cõi vô vi

Thu vào một bản tình thi đạo người

Nhưng đến khi

Chứa đầy cùng cực thì tan

Bay vào vũ trụ, thênh thang đường trời

Kinh dịch thật là lãng mạn: Núi chứa trời đầy quá thì tan.

Vậy mà 64 bài Diễn ca ngắn ngủi nạp chứa cả 64 quẻ Kinh Dịch thì còn đầy hơn Núi chứa trời, rồi cũng sẽ tan và bay vào vũ trụ, lấp ló cùng muôn vạn sao trời mà thôi.

Song trước khi tan chắc chắn có một thời Kinh Dịch Diễn Ca tồn tại và phát huy tác dụng. Tồn tại rồi tan, tan rồi bay lên đường trời trăm ngả hanh thông, tải đạo thi hành rộng khắp. Âu cũng là sự xoay vần của vũ trụ.

Tác giả Trần Anh Ngọc

0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!