Bản chất của các bậc trong thiền định

Về cơ bản, 10 bậc của thiền định là một mô thức cho sự phát triển của người học thiền. Các khả năng chồng chập lên nhau và là tiên đề để đạt tới bậc tiếp theo. Như thế, thiền sư có thể nhận biết và theo dõi được tiến bộ của thiền sinh. Có điều, cùng lúc các bậc lại cũng là các bước mà buổi “ngồi thiền” nào cũng phải trải qua trong lúc gia tăng tĩnh lự. Càng có kinh nghiệm thì sự gia tăng càng nhanh và trúng đích hơn. Thường thì thiền sinh chỉ có khả năng tĩnh lự đến những bậc mà bấy lâu hay người đó đã đạt tới. Hãn hữu có những bước đột phá mà thiền sinh cảm thấy dường như với một sự nhảy vọt đã đạt tới một bậc tĩnh lự sâu hơn, chứ không có sự phát triển tuần tự. Những trường hợp như thế được gọi là “tiểu giác”. Nó có thể là lâu bền và mở ra những khả năng mới, nhưng cũng có thể chỉ là một lần cảm nhận.

Các bậc của thiền định không hề là danh mục kiểm định, bắt buộc và cần phải đáp ứng. Ranh giới giữa các bậc ấy là thứ ranh giới “trôi”, có tiến và, hệt như thế, có thoái. Dễ thấy nhất ở ngay bốn bậc đầu. Ở đó người tham thiền học tĩnh tâm và tập trung. Nhưng khả năng còn tùy thuộc ở tình thế trong ngày hay là ở quãng đời của người đó. Chính người “quá vất vả, lắm lo âu” thường khi khó bình tâm nhưng cũng có khi lại tĩnh tâm được cực tốt, là bởi lúc thiền tựa như một khoảng lặng thoát ra ngoài cuộc sống tất bật. Điều này còn tùy ở căn cơ mỗi người.

Thiền định tạo cơ hội để gặp gỡ cá tính và tự giác xử sự với các tính cách riêng. Các tính cách đó đều có căn nguyên và có một ý nghĩa, bất kể là tính “tốt” hay “xấu”. Chúng phải được xem xét mà không vội đánh giá, không bức xúc và phải có lòng từ ái với chính bản thân. Vậy nên các trở ngại lúc ngồi thiền chính là một phần quan trọng của buổi ngồi thiền đó. Chúng phải được tự giác thấy, được xem xét kỹ lưỡng và bình thản, mà như thế thường là tự chúng sẽ biến mất. Tĩnh tâm vốn xuất xứ từ tinh thần, ít từ thể xác.

Các bước của thiền định như thể một bản đồ, nó chỉ hướng đúng cho thiền sinh trên đường đi có nhiều ngã rẽ. Một vài truyền thống Phật giáo lại chỉ phân chia thiền thành ba bậc: dưới (hạ), giữa (trung) và cao (thượng). Ở đó, bậc dưới có lẽ trùng khớp với các bậc từ 1 đến 4, bậc giữa với các bậc 5 và 6, còn bậc cao với các bậc 7 và 8. Cơ sở của cái cách phân “nghiêng” đó nằm ở chất lượng của thiền định, nó cũng thể hiện ở thời gian thực hành. Từ bậc nọ qua bậc kia, bước tiến có lâu hơn. Cũng có thể đạt đến bậc đầu tiên sau nhiều tuần hay nhiều tháng. Có người phải hai, ba chục năm sau mới đạt được đến bậc sáu. Tuy nhiên, thiền sinh sau ngần ấy năm, không những đã trau dồi được khả năng mà còn nắm vững những kiến thức kinh viện. Họ lại phải được tôn phong thiền sư mới được phép mở trường riêng và độc lập chỉ giáo cho người học. Như thế, chỉ mỗi chứng chỉ “bậc 6” thôi chưa đủ.

Thiền sinh cần biết rằng mỗi bậc của tĩnh lự vốn đã mang sẵn trong nó cái mầm để tiến lên bậc trên và trên nữa. Không có chuyện cho lên lớp. Não bộ phát triển, theo trình tự đều đặn song cũng có những bước nhảy vọt. Vậy nên các vị thiền sư già thường hay nhắc đến sự phát triển của con trẻ, khi trẻ học nói chẳng hạn. Bắt đầu bằng một từ, rồi đến những từ khác, rồi đến những câu ngắn, cho đến khi đứa trẻ có thể nói trơn tru. Chỉ tới khi ấy mới nhận ra “đứa trẻ biết nói”, mặc dù trước đó từng người đã có thể trao đổi với đứa trẻ bằng ngôn ngữ. Sau đó, khả năng về ngôn ngữ vẫn còn tiếp tục khác đi, tự hoàn thiện mãi cho đến tận cuối đời.

Các bước tiến trong thiền định cũng hệt như thế. Một năm đầu ngồi thiền đã tập dượt cho các “nơ ron gương” và rèn luyện trực cảm. Tới lúc đó, não bộ đã dùng đến “nơ ron gương” của nó thì lẽ đương nhiên nó tiếp tục dùng nữa và khai thác từng bước cải thiện. “Tiếng nói bên trong” không ngừng rõ hơn. Song phải đến bậc 6 của thiền định, toàn bộ tư duy trực cảm mới tự giác để cho sử dụng. Hệt như thế, từ một độ tuổi nào đó, đứa trẻ đã có thể nói năng gãy gọn, song nó chưa thể thuyết giảng ở trường đại học.

Thiền sinh có thể có những đột phá do tác động của các hiện tượng các “tiểu giác”. Khi ấy, thiền sinh đột ngột thấy mình rơi vào một trạng thái tĩnh tự cao hơn nhiều so với mức mong đợi theo trình độ tu luyện. Ý thức còn chưa được chuẩn bị đành phải chấp nhận theo trải nghiệm. CHính bậc của tĩnh lự cũng có hỗ trợ ở đây vì chúng cung ứng một cách sắp xếp có trật tự vào con đường thiền vốn được mong đợi. Khi đã có một bước “tiểu giác” nhảy bậc thì đó là có thật. Tuy vậy, không hiếm trường hợp, dù cho đã ở trên con đường thiền bình thường, các khả năng mới vẫn cứ tấp tểnh hay là nhảy nhót mà đến. Có khi vốn chúng đã hiện hữu ở đó, song lại tác động rất đột ngột bởi được thức tỉnh bất chợt.

Lắm khi “tiểu giác” lại thành vật cản, bởi chúng thức tỉnh lòng ham muốn được nhiều hơn nữa. Thiền sinh nghĩ: “mình luôn muốn được thế” và cứ đeo bám vào đó về tinh thần mà xa dần mục tiêu đã hướng tới. Tức là những cảm nghĩ bất thường như thế phải kiên quyết dẹp bỏ, phải được bình thản xem xét. Phải hiểu chúng chỉ là đối tượng luyện tập chứ không thể là mục tiêu để được hưởng lợi. Bản thân tôi sau hai năm thực hành thiền định đã từng có một lần “tiểu giác”. Trải nghiệm ấy đã trở thành động lực cho ba chục  năm thực hành sau này.

Daquyvietnam

Mời bạn xem thêm: vòng tay phong thủy giá rẻvòng tay phong thủy mệnh thủy,  vòng tay phong thủy mệnh thổ.

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!