10 thiên can

Thiên can bao gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. 10 ký hiệu này là đại biểu cho 10 trạng thái và tuần tự logic của sự vật.

Giáp nghĩa là “áo giáp”, chỉ vạn vật phá áo giáp mà ra.

Ất nghĩa là “chen lấn” chỉ sự sinh trưởng của vạn vật.

Bính nghĩa là “sáng sủa”, chỉ ánh sáng sung mãn, vạn vật tươi tắn, đẹp đẽ, còn có nghĩa là “hưng thịnh”, chỉ vạn vật sinh sôi.

Đinh nghĩa là “cường tráng”, chỉ sự sinh trưởng khỏe mạnh của vạn vật.

Mậu nghĩa là “tốt tươi”, chỉ dáng vẻ tốt tươi của vạn vật.

Kỷ nghĩa là “khởi phát”, chỉ dáng vẻ hăm hở khởi phát của vạn vật.

Canh nghĩa là “biến đổi”, chỉ sự đổi mới của vạn vật.

Tân nghĩa là “mới”, chỉ vạn vật mới mẻ hoặc thành công.

Nhâm nghĩa là “thai nghén”, chỉ âm khí tiềm ẩn dưới đất, vạn vật hoài thai.

Quý nghĩa là “suy đoán”, chỉ sự sinh sôi, khởi đầu của vạn vật.

Phân chia âm dương của can chi

So sánh can chi thì Thiên can là dương, Địa chi là âm. Ví như Mộ, Thiên can Giáp Mộc là Mộc dương, Địa chi Dần Mão là Mộc âm. Nhưng nội bộ thiên can cũng chia thành âm dương, do đó Giáp là Mộc dương, Ất là Mộc âm. Địa chi cũng như vậy, đo đó Dần là Mộc dương, Mão là Mộc âm.

Âm dương ngũ hành Dương Mộc Âm Mộc Dương Hỏa Âm Hỏa Dương Thổ Âm Thổ Dương Kim Âm Kim Dương Thủy Âm Thủy
Thiên can Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
Địa chi Dần Mão Ngọ Tỵ Thìn, Tuất Sửu, Mùi Thân Dậu Hợi

Can dương tính cương, thay đổi cùng với sự sinh ra hay mất đi của khí, không chịu ảnh hưởng của lực mạnh. Can âm có tính nhu, có thể vứt bỏ cái tôi, thay đổi theo lực mạnh.

10 Thiên can và sự vận hành của mặt trời có quan hệ qua lại với nhau, mặt trời mọc hướng Đông, lặn hướng Tây, tuần hoàn qua lại, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sản sinh vạn vật. Trong đó, Giáp là dương Mộc, ất là Mộc âm, Bính là Hỏa dương, Đinh là Hỏa Âm, Mậu là Thổ dương, Kỷ là Thổ âm, Canh là Kim dương, Tân là Kim âm, Nhâm là Thủy dương, Quý là Thủy âm. Ngũ hành của Thiên can là : Giáp Ất thuộc Mộc, đại biểu cho hướng Đông; Bính, Đinh thuộc Hỏa, đại biểu cho hướng Nam; Mậu, Kỷ thuộc Thổ, đại biểu cho trung ương; Canh, Tân thuộc Kim, đại biểu cho hướng Tây; Nhâm, Quý thuộc Thủy, đại diện cho hướng Bắc.

Giữa 10 Thiên can có tồn tại quan hệ tương xung và hợp hóa. Tương xung là Giáp – Mậu xung nhau, Ất – Kỷ xung nhau, Bính – Đinh xung nhau, Đinh – Tân xung nhau, Mậu – Nhâm xung nhau, Kỷ – Quý xung nhau, Quý – Đinh xung nhau. Hợp hóa là Giáp – Kỷ hợp hóa Thổ, Ất – Canh hợp hóa Kim, Bính – Tân hợp hóa Thủy, Đinh – Nhâm hợp hóa Mộc, Nhâm – Quý hợp hóa Hỏa. Hợp hóa của Thiên can gống như vạn vật trong tự nhiên sau khi gặp một loại sự vật khác sẽ phát sinh sự thay đổi trong bản chất.

Thuộc tính âm dương ngũ hành của Thiên can

Trong Thiên can đều phân thành âm dương, tổng cộng có 5 cặp Thiên can, Địa chi cũng giống vậy nhưng Thổ có 4 loại do đó tổng cộng có 12. Dưới đây giới thiệu đơn giản về thuộc tính của Thiên can.

Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ
Dương Kim dương (canh) giống như đao kiếm trong chinh chiến, chủ về sát khí của thiên địa. Mộc dương (Giáp) hùng tráng và cương cứng, như cây cao chọc trời có thể đứng sừng sững ngàn năm. Thủy dương (Nhâm) mạnh mẽ, dồi dào, chảy liên tục không ngừng, dễ tiến mà khó lùi. Hỏa dương (Bính) mạnh mẽ, như Hỏa từ  mặt trời, có thể dung hòa vạn vật. Thổ dương (Mậu) cao dày, cứng nóng, cứng cáp, như bức tường thành.
Âm Kim âm (Tân) như vàng bạc châu báu, dễ chịu ấm áp, thích hợp trang sức. Mộc âm (Ất), mềm mại khúc khuỷu, như cây thân leo, không sợ bị chặt phá. Thủy âm (Quý) mềm mại kéo dài, thế nước tĩnh lặng như nước hồ tĩnh lặng. Hỏa âm (Đinh) bên ngoài thì mềm mại mà trong thì sáng sủa, giống như ngọn đền giữa nhân gian. Thổ âm (Kỷ) mỏng, thấp, mềm, ẩm, có thể cho chở vạn vật, giống như đất ở đồng ruộng.

 

tài liệu đá quý
0 replies

Leave a Reply

Want to join the discussion?
Feel free to contribute!